Điệp vụ trong bóng tối:
Israel và Iran đã từng cộng tác với nhau để đập tan chương trình bom hạt nhân của Iraq!
Vào rạng sáng ngày 30 tháng 9 năm 1980, bốn chiếc máy bay phản lực F-4E Phantom do Mỹ sản xuất thuộc không quân Iran lao vút hạ độ cao xuống thấp trên bầu trời miền trung Iraq, mỗi chiếc đều mang theo tên lửa không đối không và 6 trái bom trên cánh.
Trước khi tiến vào không phận Iraq, phi đội đã được tiếp cận để tiếp nhiên liệu trên không với một máy bay tiếp dầu Boeing 707 được hộ tống bởi hai máy bay chiến đấu F-14 Tomcat tiên tiến hơn -loại máy bay này sau đó sẽ được nổi tiến và bất tử hóa bởi Holywood sáu năm sau đó trong bộ phim Top Gun- và để hoàn thiện không khí phim hành động thập niên 80, phi đội này đang thực hiện một nhiệm vụ có mật danh là 'Operation Scorched Sword’ aka Chiến dịch thanh kiếm thiêu cháy aka "Thanh Hỏa Kiếm".
Những chiếc Phantom bay sát mặt đất rồi nhanh chóng lên độ cao lớn hơn để xuất hiện trên radar của Iraq, trước khi lao xuống và biến mất trên màn hình radar. Nhưng trong khi hai chiếc Phantom làm mồi nhử duy trì quỹ đạo bay hướng về phía Baghdad thì những chiếc còn lại sau khi hạ độ cao lại chuyển hướng về phía nam nhắm đến mục tiêu thực sự: nhà máy điện hạt nhân nước nhẹ Osirak của Iraq.
Các máy bay phản lực của không quân Iran đã thực hiện cuộc không kích đầu tiên nhằm vào một lò phản ứng hạt nhân của Iraq và là cuộc không kích phủ đầu lần đầu tiên nhằm ngăn chặn một quốc gia phát triển khả năng vũ khí hạt nhân.
Trước Cách mạng Iran 1979, Iran và Israel đã từng là đồng minh và sau này Tel Aviv tiếp tục cung cấp vũ khí thiết yếu và các hình thức hỗ trợ an ninh khác cho Tehran trong những năm 1980 bất chấp những lời lẽ ngày càng chống Israel của giáo chủ Ayatollah. Điều này xảy ra phần lớn là do cả hai nước Israel và Iran cùng lo ngại về việc quân đội Iraq dưới thời Saddam Hussein tăng cường sức mạnh quân sự.
Năm 1975, Iraq đã đàm phán thành công thỏa thuận trị giá 300 triệu đô la (tương đương 1,7 tỷ Đô la năm 2026) với Pháp để xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu nước nhẹ kiểu Osiris công suất 40 megawatt tại Iraq, được đặt tên ghép là 'Osirak'. Thỏa thuận này bao gồm hai lò phản ứng có tên Tammuz 1 và 2 được xây dựng tại Trung tâm Hạt nhân al-Tawaitha ở phía nam Baghdad.
Lò phản ứng Osiris được thiết kế cho mục đích dân sự, nhưng nó có tiềm năng trở thành bàn đạp cho khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân, mặc dù cho đến nay các chuyên gia vũ khí vẫn chưa thống nhất về mức độ sẵn sàng tiếp cận của bước dẫn tới vũ khí hạt nhân của Iraq, tổng thống Hussein đã gây áp lực thành công lên chính phủ Pháp để họ cung cấp hàng chục ký nhiên liệu hạt nhân đã được làm giàu đến 93% -đạt tiêu chuẩn vũ khí- trong khi có cả hàng ký uranium được mua từ Nam Mỹ và các nguồn khác.
Vì lý do trên, lò phản ứng này đã gây lo ngại cho cả Israel -quốc gia duy nhất ở Trung Đông hiện nay vẫn sở hữu vũ khí hạt nhân- và Iran, quốc gia đã đẩy lùi cuộc tấn công của Iraq bằng xe tăng bất thành năm 1975.
Ngày 22 tháng 9 năm 1980, Saddam Hussein phát động cuộc xâm lược toàn diện của Iraq vào vùng tây nam Iran, với hy vọng tận dụng sự hỗn loạn đang diễn ra tại nước Cộng hòa Hồi giáo mới thành lập. Cuộc chiến kéo dài tám năm đầy máu me và tàn phá.
Chính trong bối cảnh đó, Không quân Iran bắt đầu lên kế hoạch tấn công Osirak vào đầu tháng Sáu năm đó (sau này được biết là theo yêu cầu của Tham mưu trưởng Tình báo Quân đội Israel) Israel lúc này là một trong số ít quốc gia sẵn sàng cung cấp vũ khí và thông tin tình báo cho Iran để chống lại quân Iraq, vì vậy cuộc tấn công được coi là một sự giúp đỡ đôi bên cùng có lợi.
Phi đội máy bay chiến đấu F-4 và F-14 tiên tiến của Mỹ mà Iran sở hữu đã chứng tỏ là một lợi thế đáng gờm trước lực lượng Iraq trong những năm đầu của cuộc chiến tranh Iran-Iraq. Các máy bay Phantom được Iran triển khai trong cuộc không kích thuộc Phi đội Chiến đấu số 33 đóng quân gần Hamedan, Iran.
Vì mang theo những quả bom ngu không điều khiển Mark 82 nặng 500 lbs, theo lý thuyết thì các phi công của Iran sẽ phải lái máy bay lao thẳng xuống giữa hệ thống phòng không hùng mạnh của Iraq để cắt bom đánh vào mục tiêu. Căn cứ Al-Tuwaitha của Iraq được bảo vệ bởi hàng chục khẩu pháo phòng không tác xạ nhanh cỡ nòng 23 và 57 mm, cùng một hệ thống tên lửa đất đối không tầm ngắn SA-6 do Liên Xô sản xuất và ba hệ thống Roland 2 của Pháp trang bị để bảo vệ lò phản ứng.
Tuy nhiên, nhờ cú bay thấp đánh lừa phòng không (như đã kể ở đầu câu chuyện) nên lực lượng phòng thủ Iraq dường như đã bị bất ngờ, hai máy bay Phantom mồi nhử bay về hướng Baghdad đã thả bom xuống nhà máy điện của Iraq, khiến Baghdad mất điện trong hai ngày. Trong khi đó, phi đội chính lao xuống al-Tawaitha và thả cả mười hai quả bom chỉ trong vài giây trước khi cả phi đội phóng trở lại căn cứ, không có báo cáo nào về hỏa lực phòng thủ đất đối không của Iraq.
Một số nhân chứng cho biết đã nhìn thấy hai quả bom của Iran thả xuống đã bật ra khỏi mái vòm của lò phản ứng, vụ tấn công đã gây ra một đám cháy lớn và làm hư hại các đường ống, máy bơm làm mát và các thiết bị phòng thí nghiệm. Hàng trăm kỹ thuật viên người Pháp và Ý đã phải di tản khỏi cơ sở sau cuộc không kích này, mặc dù một số người sau đó đã quay trở lại.
Tuy nhiên, một báo cáo tình báo của CIA từ một nguồn tin bí mật nội bộ đã xác nhận là chỉ các tòa nhà phụ bị trúng bom còn khu vực chính không thiệt hại nhiều.
Báo cáo tổng kết chiến trường:
Ngày 30 tháng 11, một máy bay trinh sát RF-4 Phantom của Iran đã bay trở lại khu vực này với tốc độ siêu âm, chụp ảnh để đánh giá tác động của cuộc tấn công, những bức không ảnh tình báo này sau đó được chuyển trong một thùng kim loại và được gởi đến Israel bằng máy bay Boeing 707, loại máy bay đang được sử dụng để vận chuyển vũ khí của Israel đến Tehran.
Các không ảnh này, được củng cố bởi các phi vụ trinh sát không ảnh do máy bay Phantom của Israel đồng thời thực hiện, đã giúp IDF thiết kế một bản sao hoàn chỉnh của cơ sở hạt nhân này để lên kế hoạch và diễn tập cho cuộc không kích của chính họ cuối cùng đã diễn ra vào ngày 7 tháng 6 năm 1981.
Do không thể trực tiếp trả đũa Israel, Saddam Hussein thay vào đó đã tấn công cơ sở nghiên cứu hạt nhân của Iran ở Bushehr. Từ năm 1984 đến năm 1987, máy bay Super Etendard và Su-22M4K của Iraq đã ném bom khu phức hợp này năm lần, gây thiệt hại đáng kể cho cơ sở, vốn không được sử dụng nhiều do những hạn chế về tài chính do chiến tranh gây ra.
Mặc dù vụ tấn công Osirak thường được trích dẫn như là ví dụ điển hình trong các lập luận ủng hộ các cuộc tấn công phủ đầu chống sở hữu vũ khí hạt nhân, nhưng thành công của cuộc đột kích này rất giới hạn. Mặc dù đã làm chậm lại nỗ lực của Iraq trong việc sở hữu vũ khí hạt nhân khoảng một thập kỷ, một số chuyên gia cho rằng lò phản ứng này không thực sự phù hợp cho mục đích sản xuất vũ khí.
Việc Saddam bị lật đổ năm 1991, cùng với sự tan rã của Liên Xô đã chấm dứt liên minh bí mật Israel-Iran. Tehran ngày càng nghiêng vào sự ủng hộ dành cho các nhóm tay chân chống Israel để giành ảnh hưởng và liên minh trong thế giới Ả Rập, trong khi Israel lúc này hiểu rằng Iran mới là quốc gia thù địch có khả năng nhất trong khu vực muốn sở hữu vũ khí hạt nhân.
Trớ trêu thay, sau khi chính mình cùng với Israel tiên phong trong việc tấn công phủ đầu các cơ sở nghiên cứu hạt nhân của một quốc gia khác, ngày nay chương trình nghiên cứu hạt nhân rộng lớn của Iran lại đang bị đe dọa bởi các cuộc không kích phủ đầu từ phía Israel và Hoa Kỳ. Tuy nhiên Iran đã rút kinh nghiệm từ các cuộc tấn công vào Osirak dẫn đến việc chương trình nghiên cứu hạt nhân của Iran được phân tán trong nhiều cơ sở ngầm chứ không tập trung ở một cơ sở bề thế trên mặt đất để dễ bị tấn công.
Nhưng thực tế ngay cả những cơ sở ngầm trong núi của Iran cũng đã bị liên quân Israel-Mỹ không kích xóa sổ mới đây hồi đầu năm 2026.
42 Sưu tầm.