Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

"Hà nội trong mắt ai" 2

Em hãy phân tích và diễn giải đoạn văn sau (Thời gian 45 phút, thang điểm 5):

"Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." Trích.

Bài làm:
Đây là một đoạn văn được viết theo cung cách 'bựa', một trào lưu phá cách phát xuất từ nhóm "An Hoàng trung tướng" được nhiều người sử dụng từ thập niên trước.

"Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi" Đoạn nhập đề, tác giả nhắc đến nỗi thất vọng từ việc bị đối xử không thân thiện tại Ninh Bình-Bái đính, giờ đây là lúc được vài người bạn ở tại Hà nội đã quen trên Fb chiêu đãi uống bia hơi, tiếp đó là diễn tiến tại quán bia hơi "khung cảnh thật ồn ào không tả nổi" cho thấy đây là một quán rất đông khách, suy từ điều này cho thấy tụ điểm này có bia ngon. Trên bàn nhậu "mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể'' tác giả mô tả lại sự hưng phấn của mọi người trong bàn, cái ồn ào vốn dĩ của quán nhậu cộng hưởng với sự vui nhộn từ từng thành viên làm cho ai ai cũng như muốn tuôn hết những hưng phấn trong người ra, từng tràng ngôn ngữ tuôn ra không theo thứ tự, mọi người như đồng loạt cùng nói với hết âm lượng, điều này làm cho men bia như bay mất, uống bia nhiều mà không cảm thấy say.

Để chứng minh ý trên, "bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực" kết luận của tác giả chứng minh cho việc khi hưng phấn, nói nhiều với âm lượng hết cỡ sẽ giúp cho bớt say, "sự đón tiếp có hơi quá thân mật" điều làm cho tác giả ngạc nhiên là sự đón tiếp thân tình ngoài sức tưởng tượng, không ngờ đến tấm lòng của những người bạn chỉ quen qua Fb đã dành cho sự đón tiếp nồng hậu như thế.

Từ sự đón tiếp nồng hậu như trên, tác giả chợt liên tưởng "làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải" không phải những người miền Bắc mình gặp đều không thân thiện, rõ ràng ở đây đang có một nhóm người tiếp đãi mình nồng hậu đến như vầy cơ mà, điều này cho thấy "-ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa-" không phải mọi người Bắc mình gặp đều khó chịu, có những người rất thân thiện như bọn đang ngồi nhâu đây mà.

Câu kết, tác giả đã ngầm cám ơn, thừa nhận sự dễ chịu và nồng hậu của những người bạn đã đãi một trận bia thú vị "trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." mang đ́ến một buổi tối yên ả cho tác giả bên bờ hô Tây. Hết.

Bonus. Bựa từ điển.
Bọn, bỏn: Từ chỉ số nhiều, một nhóm người.
Trận: Bữa, Lần.
Hét: Nói to
Hơi quá: Nhiều trên mức bình thường.
Đọc văn bựa cần chút 'bựa' và trí tưởng tượng.













Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

"Hà nội trong mắt ai"

Mình ra Hà nội đúng ngày nóng kinh khủng, sau chuyến bay từ Đà nẵng xuống Nội bài -sân bay quốc nội bé như cái móng tay, cú ngạc nhiên này kéo dài cho đến khi mình thấy những căn nhà trong khu phố cổ mới hết, những ngôi nhà bé đến độ không thể hẹp hơn- chuyến du lịch bắt đầu về hướng Ninh bình, khu Tràng an với cảnh sông núi đẹp không tả xiết, rời Bái đính với cảm giác hụt hẫng khủng khiếp về người miền Bắc, nói chuyện tục tĩu, coi du khách miền Nam như quân thù.

Bọn mình nói giọng miền Nam đối diện với thái độ thù địch rõ ràng từ ánh mắt nhìn cho đến từng câu đối thoại, sự kỳ dị của chuyện đi vệ sinh phải trả tiền (có hẳn một người ngồi đó thâu tiền -những bà thím trên 50 với lối nói liến thoắng như chim rất khó nghe- chuyện trả tiền để đi vệ sinh không đáng nói nhưng thái độ thù địch của đám người làm, thu tiền này thật đáng kinh sợ, những phụ nữ khá lớn tuổi có lẽ bị ký ức ác cảm với miền Nam từ cuộc chiến còn sót lại?) Trải nghiệm tồi tệ nhất là bà thím coi khu vệ sinh chùa Bái đính, ngôi chùa dùng để kinh doanh nhưng coi du khách như quân thù từ kiếp trước. Cũng may, nét đẹp kỳ vĩ của cảnh vật khu Tràng an đã xoá đi những những khó chịu trong chuyến đi.

Hôm về Hà nội, mình được chào đón với món bánh tôm chiên bờ hồ, một thất vọng không nhẹ sau những giới thiệu có cánh về nó, sau nhiều háo hức mong chờ, giờ đây ngồi trong quán bờ hồ với cái nóng không chịu nổi, nhấm chiếc bánh tôm chiên và tự nhủ mình hảy bớt tin vào những mô tả, những mộng mơ về một Hà nội trong thơ ca!

Sau chầu ăn uống, mình băng qua đường để tham gia chút nhộn nhịp phố phường, một Hà nội lộn xộn của bến xe người lên xuống và hàng rong, không tìm được chút lãng mạn nào mình thất vọng về khách sạn ngắm mặt hồ Tây từ khhung cửa khách sạn Hoàng hôn bên bờ hồ.

Buổi chiều với chuyến xe điện chạy vòng phố cổ, những căn nhà bé như tổ chim xen lẫn với nhiều con hẻm sâu hun hút (mình khi nhìn những căn nhà này tự thán phục những cô bạn xinh xinh trên Fb với những góc chụp Hà nội thật đẹp, không biết các cô nàng Hà nội này phải tốn bao nhiêu công sức tìm tòi để có những góc chụp đẹp không tưởng như vậy, hí hí) Phố đi bộ có hơn Sài gòn nhưng cũng không đáng để phí thời gian ra đó. Kem Tràng tiền, không như mình tưởng tượng qua những áng văn, nó nhếch nhác và bẩn đến không ngờ.

Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả.

Hà nội trong mắt mình, hiếm gái xinh, không biết bỏn trốn đâu hay chỉ có trên Fb? Điều đọng lại trong mình nhiều nhất là các loại biển hiệu và tiệm buôn bán, Hà nội có vẻ hướng ngoại -Âu Mỹ- hơn Sài gòn, mình không tưởng được có ai đó dám nói với dân Hà nội là chuẩn bị quay về thời XHCN ngày xưa, chuyện gì sẽ xảy ra?

Tóm lại, Hà nội trong mắt mình không có gì hấp dẫn, hí hí


Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

Venezuela đảo chánh?

Có thể xảy ra đảo chánh ở Venezuela không?
Bài viết 5/3/2019. Tác giả Ken Silverstein là người sáng lập WashingtonBabylon.com, và cũng viết cho nhiều ấn phẩm khác.

Chính quyền Trump rõ ràng muốn, nhưng nhân dân và quân đội Venezuela lẫn các nước láng giềng đều không mong muốn chuyện này.

Trong hai năm đầu cầm quyền Donald Trump không chọn thêm được quốc gia nào mà ông muốn xâm chiếm và lật đổ, Iran đã thoát trong đường tơ kẽ tóc, kế là Bắc Triều Tiên, rồi Syria hay Trung Quốc hoặc một số nước khác đã làm ông nổi giận.

Ngoài một cuộc tấn công tên lửa vào Syria vào năm 2017, Trump đến nay đã không có một hành động biểu lộ giận dữ trong chính sách đối ngoại, nhưng trong thời gian gần đây nỗi ám ảnh chiến tranh đã kích động ông chú tâm vào việc tìm cách lật đổ chính phủ Venezuela của Nicolás Maduro bằng cách thông qua áp lực kinh tế hay một cuộc đảo chính quân sự do Mỹ hỗ trợ hoặc khuyến khích một cuộc xâm lược tập thể được lãnh đạo bởi Brazil -do nhà dân chủ vĩ đại Jair Bolsonaro lãnh đạo- và Colombia nơi chế độ dân chủ được thiết lập từ nửa thế kỷ qua trên những mồ chôn tập thể.

Trong việc tìm kiếm giải pháp Trump được 'bộ ba khủng bố' hướng dẫn: Thượng nghị sĩ Florida Marco Rubio, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ John Bolton và đặc phái viên của chính quyền Trump về Venezuela, Elliott Abrams (thành tích nổi bật của Abrams gồm những lời khai man về vụ Iran-Contra, ủng hộ các chế độ sát nhân ở Guatemala và El Salvador và cổ vũ chiến tranh Iraq).Trong những tuần gần đây cả Rubio và tờ báo Miami Herald đều đưa ra dự đoán về sự sụp đổ sắp tới của Maduro.

Tôi không ưa gì Maduro nhưng hiện tại theo tôi những dự đoán đó là sai: Vị thế Tổng thống của Maduro được bảo vệ vững chắc và mọi âm mưu tìm cách thay thế ông ta chỉ là ngớ ngẩn.

Vào đầu năm 1989, chính phủ 'tân tự do' do Mỹ hỗ trợ của Carlos Andrés Pérez -còn gọi là tên dối trá- đã ra lệnh cho quân đội bắn những người biểu tình xuống đường chống lại kế hoạch thắt lưng buộc bụng cuả Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn người đã bị tàn sát, số liệu thật sự không thể có được vì nhiều người đã bị thủ tiêu trong các mồ chôn bí mật.

Tháng 2/1992 Hugo Chávez lãnh đạo một âm mưu đảo chính chống lại chính quyền, cuộc đảo chính thất bại nhưng Chavez trở thành một anh hùng nổi tiếng, đặc biệt là sau khi ông đọc diễn văn trên đài truyền hình quốc gia nhìn nhận trách nhiệm về hành động của mình, một điều hiếm thấy trong chính trị Venezuela, Chavez với thỉnh cầu nổi tiếng đến các quân nhân, những người ủng hộ cuộc đảo chính quay trở lại doanh trại do "sự hổ thẹn" và "thời cơ" mà họ nhắm đến đã thất bại.

Chavez bị tù, nhưng hai năm sau được trả tự do và nổi tiếng, năm 1999 ông được bầu làm Tổng Thống và tái đắc cử ba lần.

Vào tháng 4 năm 2002, một Hội đồng quân nhân đảo chính lật đổ Tổng thống Chávez và đưa Pedro Carmona, giám đốc Phòng Thương mại của Venezuela thay thế, do Chavez rất đựơc hâm mộ vào thời điểm đó nên các cuộc biểu tình chống đối bùng nổ trên khắp đường phố ở Venezuela và chỉ trong vài ngày chính quyền Carmona sụp đổ và Chávez trở lại cầm quyền (chính quyền George Bush mất mặt vì cú này do thứ trưởng ngoại giao Mỹ Otto Reich đã đi gặp gỡ các giới lãnh đạo đảo chính và tán thành việc truất phế Chávez).

Chiến lược của Trump ở Venezuela rất đơn giản và tương tự như những gì Mỹ đã làm ở Iraq vào cuối 1990 và đầu những năm 2000 trước khi quyết định đổ bộ: Làm kiệt quệ đất nước bằng các biện pháp cấm vận kinh tế tàn bạo và sau đó hoặc là đổ lỗi cho chính phủ về tình trạng khốn khó hay tự biện minh hành động can dự là tất yếu để phát huy tự do. Như trường hợp phóng viên Lesley Stahl của đài CBS hồi năm 1996 khi phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao thời Bill Clinton, Madeleine Albright: "Chúng tôi đã nghe nói rằng một nửa triệu trẻ em Iraq đã chết, theo tôi nghĩ con số này còn nhiều hơn số trẻ chết ở Hiroshima và theo bà cái giá (cấm vận) có đáng không?" Albright trả lời "Tôi nghĩ đây là một lựa chọn rất khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cái giá đó là xứng đáng"

Nếu các biện pháp cấm vận không làm chế độ thay đổi, bước thứ nhì là ép buộc hoặc mua chuộc quân đội lật đổ chế độ, điều này từng thất bại ở Iraq và nay cũng thất bại ở Venezuela. Báo New York Time từng loan tin mùa thu năm ngoái chính quyền Trump 'đã có các cuộc họp mật với những quân nhân nổi loạn Venezuela để thảo luận về những kế hoạch lật đổ Tổng thống Maduro'.

Đồng thời chính quyền Mỹ công khai kêu gọi dân chúng lật đổ Maduro, tháng 11 năm ngoái Bolton đã phát biểu tại Freedom Tower -tòa nhà nơi người Cuba chống Castro được chào đón vào năm 1960 sau khi Castro lật đổ nhà độc tài Fulgencio Batista- rằng: "Bộ ba chuyên chế ở bán cầu này -Cuba, Venezuela và Nicaragua- cuối cùng cũng giống nhau một điểm, họ là những tên hề rẻ tiền và yêu cầu họ hãy tự rút lui hay Mỹ sẽ loại bỏ họ ra khỏi quyền lực".

Venezuela hiện nay đang ở giai đoạn giống như hồi chính quyền Bush xâm lược Iraq, vài tuần trước chính quyền Trump tuyên bố triệu hồi tất cả các nhà ngoại giao của Mỹ từ Caracas và chính phủ Maduro trả đũa đã đóng cửa Toà đại sứ tại Washington và đưa nhân sự về nước. Trump đã công nhận chủ tịch Quốc hội là tổng thống mới của Venezuela, ông Juan Guaidó, người từng là một gã bán lẻ hàng điện tử và giờ đây đang vung kiếm xủng xoẻng và hứa hẹn ngày tận số cuả Maduro.

Không ai biết chính xác những gì sẽ xảy ra, Mỹ sẽ xâm lăng? Nghe có vẻ điên rồ nhưng phải nhớ chúng ta đang đấu trí với Trump, hay sẽ có một cuộc đảo chính quân sự do Hoa Kỳ giựt dây? Hay CIA lại một lần nữa tìm cách giết Maduro như đã từng làm với Saddam Hussein, Fidel Castro và một loạt kẻ thù khác?

Tiên đoán luôn bất định, nhưng ở đây tại sao tôi lại đặt cược vào Maduro.

Hiển nhiên ai cũng hiểu rằng ngoài các biện pháp trừng phạt kinh tế tàn bạo của Hoa Kỳ cộng thêm các chính sách tham nhũng và đàn áp của chính Maduro đã tạo ra rất nhiều khổ cực và bất mãn, dân chúng mệt mỏi và tin rằng Mỹ sẽ tiếp tục bỏ đói đất nước họ cho đến khi Maduro biến mất.

Tuần trước trong chuyến đi đến Caracas tham dự một hội nghị của International Peoples’ Assembly (Hội đồng nhân dân quốc tế,  tổ chức Mỹ Latinh chống can thiệp) tôi né tránh các sự kiện chính thức để đi tham quan các khu phố nghèo, tôi gặp một người phụ nữ trẻ làm việc trong ngành khách sạn nói chuyện với tôi, cô phát biểu: "Tôi đã chán ngấy, tôi muốn có một cuộc đảo chính", cô ấy là người duy nhất tôi gặp mà công khai ủng hộ một cuộc đảo chính, và thoải mái nói như vậy mà không hề sợ bị bắt bớ. (Riêng tôi đã tản bộ quanh thủ đô Caracas ngày lẫn đêm, công khai tuyên bố chính kiến của mình, không ai -chính phủ hay phe đối lập- quấy rối tôi hoặc khó chịu vì ý kiến của tôi).

Mặc dù Maduro không được mọi người hâm mộ lắm nhưng Guaidó và phe đối lập do Hoa Kỳ chi phối lại bị chửi rủa và phản đối rộng rãi. Rất ít người Venezuela muốn quay trở lại thời 1992, khi quân đội tàn sát người chống đối hoặc 1998 -một năm trước khi Chavez được bầu-. Thời những người cầm quyền giầu có xuất thân từ nhóm thành viên của trật tự cũ, mà một trong những thí dụ nhãn tiền về sự đối lập chính là khu George Washington Plaza, một khu phố giàu có nằm chen giữa các khu nghèo nàn El Paraiso và La Vega.

Và trong khi các chính trị gia Mỹ ủng hộ sự can thiệp thường dùng các báo cáo từ truyền thông Mỹ chỉ trích về tình trạng khan hiếm thực phẩm và thậm chí là chết đói tại Venezuela thì những gì tôi thấy khi lang thang trong thành phố lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Tôi đã gặp Viviana tại một cuộc họp công đoàn ở El Paraiso và chúng tôi cùng đi bộ khoảng hai cây số về nhà cô ấy, tháp tùng còn có cả William người bạn khác gặp mặt tại cuộc họp của công đoàn, trong lúc đi bộ tôi thấy rất nhiều thực phẩm. Giá cả có thể hơi đắt, nhưng người nghèo vẫn có thể mua nó -cà phê, đường, thịt gà, bánh mì, trái cây cùng nhiều thứ khác- ở những người bán rong và chợ lề đường.

Một vài thứ thật sự rất đắt: Trong khi chúng tôi đi bộ đến nhà Viviana, tôi cố tìm một người nào đó trên phố hút thuốc để có thể mồi nhờ điếu thuốc, thật ngạc nhiên là suốt 20 phút tôi không tìm thấy được người nào hút thuốc, Viviana giải thích "giá thuốc lá quá mắc nên hầu như chẳng ai có khả năng hút thuốc nữa".

Tuy nhiên, Viviana và William sau đó đãi tôi một bữa ăn ngon với dồi huyết, Pasta Bolognese và cơm gan gà, tất cả là các món mà Viviana có trong nhà tại khu phố nghèo La Vega.Tại lối vào khu phố nhiều người xếp hàng chờ xe buýt và xe ôm, tuy ở đây nhiều người nghèo hơn những khu khác mà tôi đã đến, khu La Vega này lại ủng hộ chủ nghĩa Chavista mạnh mẽ, điển hình từ những bức tranh tường vẽ cựu tổng thống Chavez, Simón Bolívar, El Libertador, Che Guevara và các nhà lãnh đạo cách mạng Mỹ Latinh khác.

Tôi đã đến thăm một số khu phố khác và không có thời gian dùng bữa, ở San Augustín -trung tâm Venezuela- tôi gặp một người phụ nữ có ngôi nhà ở trên sườn núi, từ cửa sổ nhà, cô chỉ cho tôi nhìn qua một khu nhà chung cư cao cấp với phần lớn các phòng trống, cô ấy cho tôi biết các chủ sở hữu đã chạy sang Miami, Orlando, Madrid, Lisbon và các nước ngoài khác.

Tôi cũng đã gặp và kết bạn với Iris, Navidad và Pedro, chúng tôi uống bia và hút thuốc lá, họ đồng ý cho tôi chụp ảnh, chúng tôi đã không nói chuyện nhiều về chính trị nhưng tôi thấy rõ họ không thích Guaidó hay phe đối lập, họ hiển nhiên cũng không có vẻ đói, trông rất khỏe mạnh và vui vẻ.

Thêm lý do nữa tôi tin rằng một cuộc đảo chính sẽ không thực hiện được là vì Mỹ đã không thể lập ra một liên minh bịp để thực hiện một cuộc xâm lược -như đã xảy ra ở Iraq năm 2003- cả hai chính phủ Brazil và Colombia đều công khai tuyên bố rằng họ sẽ không tham gia trong bất cứ cuộc xâm lược vũ trang vào Venezuela.

Sự thúc đẩy của chính quyền Trump đối với quân đội Venezuela đã không có kết quả, cho đến nay lực lượng chung quanh tổng thống Maduro dường như đã vững chắc. Câu hỏi là tại sao các tướng lãnh lại phải ngả sang phía Mỹ? Đó là một rủi ro rất lớn, sẽ bị bắt nếu cuộc đảo chính thất bại, những hứa hẹn về một ngôi nhà ở Miami hoặc một tài khoản ở ngân hàng Delaware cũng không có ích gì nếu bị đi tù.

Maduro theo dõi sát sao quân đội hay nói cụ thể hơn là Diosdado Cabello luôn kiểm soát quân đội và mọi lãnh vực khác ở Venezuela. Cabello là người quyền lực nhất ở Venezuela và là thế lực đứng sau ngai vàng Maduro. Cabello là một cựu sỹ quan quân đội, ít nhất ông và Chavez đã là bạn thân thiết kể từ sau cuộc đảo chính thất bại năm 1992. Tôi có nhiều nguồn tin cho biết rằng lý do Chavez đã chọn ông Maduro 'hãm tài' làm phó tổng thống thay vì Cabello, chỉ vì ông Chavez đã quá cẩn thận đề phòng ông Cabello là một người quá xuất sắc cho chức vụ với quyền lực thứ nhì.

Chính quyền Trump có thể tiếp tục lôi kéo hoặc đe dọa các sỹ quan Venezuela để hạ bệ Maduro, nhưng đừng mơ! Những kẻ phản bội -ở bất kỳ quốc gia nào chống lại chính phủ của mình để được hưởng tiền bạc, hoặc những hứa hẹn thăng tiến sự nghiệp từ một lực lượng ngoại quốc- chắc chắn sẽ bị bắt và xử phạt nghiêm khắc.

Như vậy Mỹ chỉ còn lại giải pháp xâm lược là một chọn lựa duy nhất để lật đổ Maduro. Bolton, Abrams, Rubio và các chính trị gia cánh hữu khác -những người giống như Rubio nhận tài trợ của các nhóm lợi ích- đều kêu gào chiến tranh, nhưng họ sẽ không chết vì chiến đấu trên đường phố ở Caracas. Nhiều nguồn tin tốt đã cho tôi biết rằng phần lớn các quan chức cấp cao của Ngũ giác đài và cục tình báo chống ý định xâm lược của Hoa Kỳ vì xét ra điều đó là điên rồ.

Điều kỳ thú là các công ty dầu mỏ của Mỹ hoạt động ở Venezuela như ExxonMobil và Chevron đã không hề công khai ý kiến gì về âm mưu của Trump nhằm lật đổ Maduro, họ hy vọng Trump -là Tổng thống nên phải- biết chiến tranh rất tệ cho kinh doanh. Tuy nhiên các công ty dầu mỏ có tài sản ở Venezuela, cuối cùng có thể sẽ quyết định tìm ngõ thoát, họ sẽ được nhiều lợi ích hơn nếu Maduro ra đi.

Như lịch sử đã cho thấy cần có một thế lực bên ngoài -ở đây là Mỹ- để kích động một cuộc chiến tranh, đây cũng là mục đích rõ ràng của Rubio, nhưng Rubio ngày càng tuyệt vọng và thất bại trong ý đồ kích hoạt một cuộc xung đột, thậm chí Rubio trong một tweet còn kèm cả hình ảnh đẫm máu của Muamar Gaddafi -cựu lãnh đạo Lybya- khi lên tiếng đòi hỏi Maduro từ chức.

Maduro có thể tham nhũng, độc đoán, khoa trương và tâm thần không ổn định -những cá tính này có phần giống Trump, người đang tìm cách truất phế ông- Maduro có thể cũng đã tìm cách tăng số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử hồi 2018. Nhưng tạm thời, ông ta vẫn là Tổng Thống tại chức, Trump và các cố vấn theo khuynh hướng can thiệp dường như không thể thay đổi điều này, nhưng tốt nhất họ không nên thử.

https://newrepublic.com/article/153219/coup-unlikely-venezuela

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

Chất độc da cam 2

Câu hỏi đầu tiên cần xem xét là vì sao các nguyên đơn Việt Nam đã thua vụ kiện chất Da Cam trước Tòa án Mỹ?

Ta chỉ việc phân tích bản án 233 trang (vụ số 04-CV-400) ngày 10 tháng 3, 2005 của Chánh án Weinstein của Tòa án Liên Bang ở New York thì thấy lý do các nguyên đơn Việt Nam thất kiện: Các luật sư Mỹ của họ đã làm hại các nguyên đơn, vì đã làm trật lất trong việc viện dẫn các căn bản pháp lý của việc kiện và trong việc đưa ra bằng chứng quá sơ sài, mặc dù Chánh Án đã cho nguyên đơn 6 tháng từ ngày 9 tháng 2,2004 để đệ nạp bằng chứng.

A. Luật sư nguyên đơn đã dựa vào nhiều căn bản pháp lý không có cơ hội thành công, vì trái luật quốc nội và luật quốc tế, và không có sức thuyết phục.

1) Trái luật quốc nội Mỹ, vì các bản án tiền lệ về các vụ kiện của cựu chiến binh Mỹ, trước vụ Việt Nam, kiện các hãng sản xuất chất da cam, như Dow Chemical , Monsanto v.v. đã thua khi đưa ra luận cứ là theo luật quốc nội, các hãng này phải chịu trách nhiệm về các sự tác hại của các chất hoá học rải trên chiến trường, mà họ sản xuất, theo luật product liability (trách nhiệm về sản phẩm gây tai hại), vì Tòa án Liên bang trong các vụ tiền lệ đó đã nói là theo nguyên tắc vô trách nhiệm của nhà thầu chính phủ (‘chính phủ biểu chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm thế, giao hàng hóa như thế ‘) cho nên họ được miễn trách. Luật sư Mỹ trong vụ Việt Nam lại dùng lại lý luận trên của các cựu chiến binh Mỹ đã thua trên căn bản này.

2) Trái luật quốc tế, hay đúng hơn là trái một phần luật quốc tế.

Trước hết, phải nói là Chánh Án Weinstein của Tòa Án Liên Bang NY đã mở ra một chân trời hy vọng cho các nguyên đơn Việt Nam bằng cách nói rõ là Tòa Án Liên Bang Mỹ làm việc trong vụ kiện quốc tế này như một Tòa Án quốc tế (International Court) để xét xử về nhân quyền của các nạn nhân; và do đó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luật quốc nội Mỹ về sự vô trách nhiệm của nhà thầu, mà có thể xét trách nhiệm trực tiếp của các nhà sản xuất các hóa chất, kể cả chất Da Cam, chiếu theo luật Alien Tort Act của Mỹ đã có từ những năm đầu lập quốc Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, công nhận cho người ngọai quốc được kiện các bị đơn ở Mỹ đã vi phạm nhân quyền ở ngọai quốc.

Trở lại vấn đề các nhà sản xuất hóa chất khai quang bị coi là vi phạm nhân quyền khi sản xuất các chất khai quang đem rải ở Việt nam, làm hại cho dân Việt Nam - Nếu có đủ bằng chứng là có liên hệ nhân quả giữa sản phẩm thuốc khai quang rải hay phun và các bệnh tật của người dân trong các khu vực rải thuốc đó (sẽ bàn ở phần sau về điều kiện dẫn chứng liên hệ nhân quả phải có này, thì mới thắng kiện, điều kiện mà các luật sư Mỹ trong vụ kiện của người Việt Nam đã không làm tròn bổn phận).

Luật sư Mỹ đưa ra một loạt các tội danh khác, dựa trên những luật quốc tế khác, để quy trách nhiệm cho các hãng hóa chất Mỹ, tất cả đều đã bị Tòa Án New York bác bỏ. Đó là các tội danh như: Tội ác chiến tranh, diệt chủng, chống nhân loại, tra tấn, hành hung, cố ý hay bất cẩn gây thống khổ tinh thần, bất cẩn gây tử vong, làm giầu bất chính và làm tổn hại môi trường.

Một phái đoàn nguyên đơn Việt nam có đến Harvard thuyết trình, gồm có giáo sư Đại học Hà Nội Phan Thị Phi Phi, cựu chiến binh Nguyễn Văn Quý và một vài luật sư của họ. Tôi có hỏi và góp ý kiện là không nên đưa ra lời cáo buộc về tội ác chiến tranh. Tòa án đã bác luận cứ các tội danh này, quá rộng lớn, chẳng khác gì lấy súng săn có đạn bắn tỏa ra nhiều viên đạn để bắn một con ruồi, thật là vô ích. Tòa án cũng nói là một số các luật lệ đao to búa lớn nói trên chỉ áp dụng cho các quốc gia, chứ không áp dụng cho các công ty tư nhân.

B. Luật sư Mỹ của nguyên đơn Việt Nam đã không dẫn chứng liên hệ nhân quả dùng để thuyết phục Tòa án.

Chánh án Weinstein có nói như vậy, vì ông cho là bằng chứng về sự liên hệ nhân quả phải có từ một số lớn các dữ kiện nghiên cứu khoa học về bệnh lý và dịch tễ, vì việc khai quang diễn tiến trên một số diện tích rất lớn và động chạm đến số dân cư rất đông mà nguyên đơn nói là 4 triệu người. Ông nói là nồng độ của chất độc dioxin trong chất khai quang agent orange quá nhỏ, vì thế thuốc khai quang là thuốc diệt cỏ, chứ không phải là thuốc độc. Và Ông Chánh Án nói là nguyên đơn nói quá ngắn gọn, không đủ chứng minh liên hệ nhân quả là: thuốc nào của hãng Dow Chemical đã tác hại đến mấy người nguyên đơn, tức là 25 người gồm các trẻ em và cha mẹ, giám hộ của họ ở Miền Bắc Việt Nam.

Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang, tức là có các đường bay của phi cơ đi qua, và các con số bệnh nhân có thể gán ghép cho chất Da Cam trong các vùng đất đó ở Miền Nam Việt Nam. Tức là phải theo phương pháp sinh học mới, là thống kê hàng lọat các dữ kiện A (các đường bay khai quang) đi liền với các dữ kiện B ( số bệnh tật) và chứng minh là có liên hệ thống kê giữa các dữ kiện ấy thì mới chứng minh được liên hệ nhân quả giữa chất khai quang và bệnh tật. Đằng này các luật sư nguyên đơn chỉ tập trung vào một vài người ở Miền Bắc Việt nam, có đi Nam đánh trận, và chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người ở trong Miền Nam.

Tôi có hỏi phái đoàn thuyết trình ở Havard tại sao không đem cả những người Miền Nam Việt Nam vào vụ kiện, kể cả những người hiện đang định cư ở Mỹ và có thể đang là công dân Mỹ, họ cũng sống ở những vùng khai quang và họ có thể to mồm trong dư luận Mỹ để giúp vụ kiện tập thể nhân danh toàn thể số dân chúng nạn nhân này , thì phái đoàn không trả lời được. Việc ích kỷ chỉ nghĩ đến các nguyên đơn gốc từ Bắc Việt nam mà quên đại đa số các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam, nơi rải chất khai quang là một lầm lẫn, nhưng Chánh án Weinstein cũng còn rộng lượng nói rằng ông không bác bỏ Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam /Dioxin Viet Nam -lập tại Miền Bắc, và Hội chỉ để ý đến các nạn nhân đi đánh trận ở Miền Nam rồi về Bắc- ra ngọai vụ, mặc dầu các hãng bị đơn đòi như vậy.

Tôi cũng hỏi có muốn giúp ý kiến thì tôi sẵn sàng, nhưng luật sư Mỹ không nói gì. Bởi vì tôi có biết một chuyện có thể khiến cho luật sư của nguyên đơn Việt Nam không thể đưa ra bằng chứng hàng lọat (massive evidence) về các đường bay khai quang ở các vùng lãnh thổ ở Miền Nam Việt Nam và các số bệnh nhân trong các vùng đó: là họ không biết đến các bản đồ các đường bay (flight paths) của các máy bay khai quang và tổng số các bệnh nhân tại các vùng khai quang mà tôi đã đựợc đọc thấy tại nhà bác sĩ Hoàng Đình Cầu, nguyên thứ trưởng Y tế và Khoa Trưởng Đại Hoc Y Khoa, mấy năm trước khi ông qua đời. Vì Ông là anh rể họ, Ông tâm sự với tôi và cho tôi xem những cuốn sách rất dầy như những cuốn tự vị về các đường bay, và nói rằng đây là bản sao ông còn giữ, còn bản chính thì đã trao cho người kế quyền của ông trong chức vụ Chủ tịch Ủy Ban 1080 của Việt Nam chuyên về chất Da Cam, là bác sĩ Lê Cao Đại, cựu sinh viên của ông. Tôi nhớ là có mời bác sĩ Lê Cao Đại đến nhà tôi ở gần trường Harvard dùng cơm trưa khi ông có việc qua thăm Mỹ, nhưng hồi đó tôi chưa được bác sĩ Cầu kể chuyện về sổ sách đường bay nên dịp đó đã không hỏi bác sĩ Đại.

Viện trợ nhân đạo?

Tôi nghĩ việc kiện tụng ở Tòa án chống các công ty tư nhân thì đã đâm lao phải theo lao, vì nếu để cho thua luôn thì sẽ có ảnh hưởng xấu khi xin viện trợ nhân đạo, vì cái lý lẽ để mặc cả yếu hẳn đi.

Còn liệu có cơ may có thể thắng hay không thì tùy thuộc ở việc tranh đấu kiên trì ở tòa Kháng Cáo, Tòa ấy có thể bắt Tòa Liên Bang ở dưới xử lại. Như chính ông Chánh Án Weinstein có nói là, nếu xử lại khi Tòa Kháng án bác phán quyết của Ông, thì Ông sẽ chú tâm xét kỹ đến các dữ kiện khoa học nêu ra liên hệ nhân quả giữa khai quang và bệnh tật, và ông chưa bác bỏ những liên hệ nhân quả đó, vì còn quá sớm. Các luật sư nguyên đơn phải ráng tìm lại các bản đồ các đường bay và các dữ kiện thống kê bệnh tật ở các vùng rộng lớn ở Miền Nam Việt nam, chứ không thể nói sơ sài như trong phiên Tòa trước đây và chỉ nói đến các người Việt ở Miền Bắc.

Do đó, việc xin viện trợ nhân đạo, tức là xin chính quyền Mỹ và nhân dân Mỹ, thì nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân, vì nhỡ ra các công ty tư nhân tuyên bố phá sản thì việc kiện là công “dã tràng se cát Biển Đông”. Việc chính phủ Bush đã giúp Việt Nam về việc đối phó với bệnh SARS, bệnh AIDS, là một bằng chứng cho thấy viện trợ nhân đạo vẫn có thể có.

Việc vận động xin viện trợ nhân đạo cũng là ý kiến của bác sĩ Hoàng Đình Cầu khi trả lời câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi đó hỏi ý kiến có nên kiện hay không, khi có một phái đoàn Mỹ có luật sư đi kèm con ông Đô Đốc Zumwalt sang Việt Nam xúi kiên tụng, thì bác sĩ Cầu nói nên dùng đường lối thương lượng xin viện trợ nhân đạo. Viện trợ này có thể giúp vào việc ủng hộ tài chánh và cộng tác trong các cuộc nghiên cứu khoa học về nhân quả trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước Việt Nam có rải chất khai quang và có bệnh tật nhiều; và cũng có thể tiến tới vấn đề chữa trị dài hạn cho các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam là những người bạn cũ của Mỹ, ở Miền Bắc là những người bạn mới của Mỹ. Không nên kỳ thị người Miền Nam trong vấn đề viện trợ nhân đạo này, như đã xảy ra trong một vài việc làm khó khi thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ nhận viện trợ xe lăn phải đóng thuế, mà báo Nhật Bản đã nêu ra cách nay vài năm.

Nạn nhân Da Cam, với những hiện tượng bệnh tật có thật và rõ rệt tận mắt, mà ai trông thấy cũng phải mủi lòng, chắc chắn sẽ làm cho lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ trổi dậy và họ sẽ viện trợ nhân đạo nhưng với điều kiện đừng nói đến “Tội ác chiến tranh”, chỉ làm cho dân Mỹ quay nhìn đi chỗ khác.

Link bản án 233: https://img.nyed.uscourts.gov/files/opinions/amoj-04-cv-400-mdl38.pdf

Luật sư Tạ Văn Tài là Tiến sĩ chính trị học, Đại học Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh, Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.

Đánh giá và ý kiến của luật sư Tài đề cập đến những diễn biến xảy ra trước tháng 6.2007 xung quanh việc Việt Nam muốn theo đuổi vụ kiện chất da cam.

Số phận bi thảm của tàu 40-302

Tàu 40-302 là loại đầu máy bốn khớp nối, chạy đường ray răng cưa tuyến Sông pha - Đà lạt.

Trong kháng chiến chống Mỹ tuyến đường sắt răng cưa Đà lạt này nhiều lần đã là mục tiêu tấn công của MTGPMN. Việt Cộng đã đặt mìn khoảng tám lần. Qua các đợt phá hoại một đầu tàu đã trật đường ray, một lần khác mìn nổ đã tạo ra một hố to tới mức đầu tàu đã sụp vào trong hố.

Năm 1967, một nhóm bốn du kích vũ trang chận đoàn tàu chở hàng lại trên đoạn Đa Thọ (Le Bosquet) và Cầu Đất (Entrerays). Tổ lái tàu bốn người bị bắt mang vào khu rừng gần đó, lần này tổ lái tàu chỉ bị hỏi cung. Hai tuần sau đó cũng chiếc đầu tàu đó và cũng cùng tổ lái tàu đó đã bị cùng nhóm bốn du kích cũ chặn lại ở giữa tuyến Cà Bơ (K’Beu) và Eo Gió (Bellevue), lần này tổ lái cũng phải rời khỏi đoàn tàu và bị bắt phải cung cấp thông tin cách nào có thể phá hủy đầu tàu một cách hiệu quả nhất. Ý tưởng đầu tiên của nhóm du kích là muốn cho nổ ở nơi đốt lò, nhưng các người lái tàu đã giải thích cho họ hiểu rằng đặt mìn nổ lò hơi trong lúc không có thời gian kịp chạy xa đến một khoảng cách an toàn là một hành động tự sát. Người lái tàu đề nghị cho nổ những thùng dầu được gắn thêm trên tàu, nhưng lại đánh lừa bốn du kích bằng cách chỉ cho họ gài mìn vào một thùng đựng nước, do vậy sau khi nhóm du kích đó đặt mìn vào thùng nước rồi rút đi, người lái tàu đã dùng máy liên lạc vô tuyến gọi một đầu máy khác cùng với quân đội VNCH tháp tùng bảo vệ đã đến và kéo chiếc đầu tàu hư hỏng nhẹ này về nhà ga tại Đà Lạt.

Tàu được thiết kế dùng than đốt lò, trong thời chiến miền Nam đã không có nguồn than -than đá chỉ có ở miền Bắc- sau khi thử dùng củi không hiệu quả, các kỹ sư đã thiết kế dùng dầu nặng (heavy oil?) và các thùng dầu được treo dọc phía ngoài toa tàu.

Sau sáu tháng sửa chữa, một tổ lái khác đã lái đoàn tàu từ Đà Lạt về Sông Pha và lần này thì đầu máy 40-302 đã đụng một quả mìn có sức nổ dữ dội làm lò hơi của đầu máy nổ tung. Ba thợ đốt lò Hữu, Bích và Ngọc bị phỏng nặng và chết ngay tại chỗ, người lái tàu tên An may mắn bị sức nổ hất văng lên một cành cây thoát chết chỉ bị gãy tay.

Đầu tàu 40-302 bị phá hủy hoàn toàn sau đó được kéo về Cầu Đất, tuyến đường sắt răng cưa độc đáo ngưng hoạt động sau đó vĩnh viễn.

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Trump vs Un

Lãnh tụ Kim Jong Un trả lời phỏng vấn trong khi đang họp với Tổn thống Donal Trump.

Trump. "Tất cả có thoải mái ở Hanoi không? Có phải mọi người đều thoải mái chứ?
Phóng viên. Lãnh tụ Kim, ngài có sẵn sàng từ bỏ vũ khí hạt nhân chứ? Cô xinh xinh dịch ra tiếng Hàn, cũng nàng ý dịch lại tiếng Anh
Un."Nếu tôi không sẵn lòng làm thế, tôi chắc không ở đây đâu".
Trump. "Nói hay, chà chà. Đây có thể là câu trả lời hay nhất tôi nghe được đó nghen"
Phóng viên. Ngài sẵn sàng để có những bước chắc chắn rồi hay vẫn chưa chính thức?
Un. "Thì chúng tôi đang bàn đấy thôi"
Trump. (nói với các phóng viên) "Mà làm ơn đừng lên giọng -khi hỏi Un- không phải như đang nói với Trump đâu".
Un. Họ đều có vẻ như vậy, nhể, hồi hộp"
Trump. "Họ đều lo lắng mà, rồi êm thôi"
Phóng viên. "Lãnh tụ Kim, ngài sẽ thảo luận về nhân quyền với tổng thống Trump chứ?"
Trump. "Chúng tôi đang có những thảo luận chất lượng, rồi chúng ta sẽ có kết luận, hiện đang có những thảo luận rất chất lượng. Tôi cho là chúng tôi sẽ có họp báo sau này trước khi chúng tôi về nước, theo tôi, chúng tôi đã có cuộc thảo luận chất lượng và mối quan hệ tốt nhất từ trước đến nay, tốt hơn, phải tôi cho là là tốt hơn đó."

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Venezuela, tự hủy diệt.

Bài tiểu luận của Moisés Naím và Francisco Toro, được viết tháng 12/2018.
Moisés Naím là thành viên quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, chuyên trách về Quốc tế cho báo El País và biên tập viên của The Atlantic.
Francisco Toro là hội viên danh dự Group of Fifty, Sáng lập viên báo Caracas Chronicles, và bình luận gia về quan hệ quốc tế tại The Washington Post.

Bài học thất bại từ một quốc gia.
Thử so sánh 2 nước Nam Mỹ:
1- Nước thứ nhất, là một trong những nền dân chủ vững mạnh và lâu đời nhất của khu vực, đồng thời tự hào có một mạng lưới an sinh xã hội hoàn chỉnh hơn bất kỳ nước láng giềng nào và đang trên lộ trình với mục tiêu sẽ cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục đại học miễn phí cho mọi công dân. Nó là một hình mẫu linh động về mô hình xã hội và mục tiêu mơ ước cho nhiều di dân từ khắp châu Mỹ Latinh và cả châu Âu. Báo chí tự do, hệ thống chính trị mở cho các đảng đối lập cạnh tranh nhau quyết liệt trong các cuộc bầu cử và thường xuyên các đảng phái tranh chuyển quyền lực một cách hòa bình, nó đã tránh được làn sóng bạo lực của các chính quyền quân sự độc tài đã làm khổ một số nước Mỹ Latinh. Có một liên minh chính trị lâu dài cùng với quan hệ thương mại và đầu tư sâu sắc với Hoa Kỳ, nó đóng vai trò là đầu tàu của Mỹ Latinh cho một loạt các tập đoàn đa quốc gia, có cơ sở hạ tầng tốt nhất ở Nam Mỹ, vẫn không thể chối bỏ nó là một quốc gia đang phát triển, có phần tham nhũng, có bất công và rối loạn, nhưng nó vượt xa các nước nghèo khác trên mọi phương diện.

2- Quốc gia thứ nhì, là một trong những quốc gia nghèo nàn nhất ở Nam Mỹ và có chế độ độc tài mới nhất của nó, một nửa số trường học bỏ hoang, hệ thống y tế xuống cấp tàn tệ bởi hàng thập kỷ thiếu đầu tư, tham nhũng và bị bỏ bê. Các loại bệnh truyền nhiễm vắng bóng đã lâu như sốt rét và sởi đã quay trở lại. Chỉ có một tầng lớp nhỏ giàu có mới đủ khả năng để ăn tiêu, một làn sóng bạo lực đã khiến nó trở thành một trong những quốc gia giết người nhiều nhất trên thế giới, đây cũng là nguồn gốc của cuộc tị nạn lớn nhất ở Mỹ Latinh trong cả thế hệ, hàng triệu người dân chạy trốn trong vài năm qua. Hầu như không chính phủ nào công nhận cuộc bầu cử gian dối mới đây (ngoài các chính phủ độc tài khác) và các phương tiện truyền thông nào không chịu nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước luôn lo sợ bị trả thù. Tính đến cuối năm 2018, nền kinh tế của nó đã bị thu hẹp chỉ còn khoảng một nửa trong năm năm qua, trở thành hành lang chính buôn bán cocaine, vài nhà môi giới quyền lực quan trọng trong giới tinh hoa chính trị của nó đã bị truy tố tại Hoa Kỳ về ma túy. Lạm phát làm giá gấp đôi sau mỗi 25 ngày, sân bay thủ đô chính bị bỏ hoang, chỉ được sử dụng bởi một số ít các hãng hàng không còn trụ lại đưa số hành khách ít ỏi đến và đi từ thế giới bên ngoài.

Hai quốc gia này thực ra chỉ là một, nó là Venezuela vào hai thời điểm khác nhau: Đầu những năm 1970 và ngày nay. Sự thay đổi mà Venezuela đã trải qua quá triệt để, quá tàn khốc và hoàn toàn không thể tin rằng nó đã diễn ra mà không có chiến tranh. Chuyện gì đã xảy ra với Venezuela? Làm thế nào mà mọi thứ đã sai đến như vậy?

Câu trả lời ngắn gọn là Chavismo -Chủ nghĩa Chávez- dưới sự lãnh đạo của Hugo Chávez và người kế vị, ông Nicolás Maduro đất nước đã trải qua một sự pha trộn độc hại của chính sách phá hoại bừa bãi, đỉnh cao chủ nghĩa độc đoán, và kleptocracy -quan điểm vinh thân phì gia của gai cấp cầm quyền- tất cả dưới sức ảnh hưởng mạnh  mẽ đến độ gần như bị đô hộ của Cuba. Bất kỳ một trong những điều trên đều sẽ tự nó tạo ra vấn nạn lớn cho đất nước và tất cả chúng gộp lại thì đúng là một thảm họa.

Ngày nay, Venezuela là một quốc gia nghèo, phá sản và hình sự hóa chính phủ bởi một lãnh đạo chuyên quyền nghe theo thế lực nước ngoài. Rất ít khả năng để đảo ngược tình huống, nguy cơ bây giờ là sự tuyệt vọng sẽ thúc đẩy người Venezuela dùng những biện pháp cực đoan, tìm sự hỗ trợ nguy hiểm -như can thiệp quân sự do Hoa Kỳ lãnh đạo- có thể khiến tình hình tồi tệ hơn.

Sự nổi dậy của Chavismo -chủ nghĩa Chávez-
Đối với nhiều người, lời giải thích cho tình trạng tồi tệ của Venezuela rất đơn giản: Dưới sự dẫn dắt của Chávez đất nước đã lún quá sâu vào chủ nghĩa xã hội và tất cả các thảm họa sau đó đều bắt nguồn từ lỗi lầm này. Nhưng hãy nhìn Argentina, Brazil, Chile, Ecuador, Nicaragua và Uruguay cũng đã bầu ra các chính phủ xã hội chủ nghĩa trong suốt 20 năm qua, mặc dù mỗi nước đều đã trải qua khủng hoảng về chính trị và kinh tế nhưng không có nước nào -ngoại trừ Nicaragua- đã sụp đổ, thậm chí một số đã vượt lên phát triển thịnh vượng.

Nếu không thể đổ lỗi chủ nghĩa xã hội cho sự sụp đổ của Venezuela có lẽ chỉ còn lại dầu mỏ là thủ phạm, giai đoạn nặng nhất của cuộc khủng hoảng Venezuela trùng khớp với sự sụt giảm mạnh của giá dầu thế giới bắt đầu từ năm 2014, nhưng lời giải thích này cũng không chính xác, sự suy giảm của Venezuela bắt đầu từ bốn thập kỷ trước chứ không phải mới bốn năm trước. Vào năm 2003 GDP trên mỗi lao động của Venezuela đã giảm 37% so với mức cao nhất năm 1978, chính sự suy giảm này là đòn bẩy đưa Chávez lên đài quyền lực. Nên nhớ, tất cả các nước xuất khẩu dầu mỏ đều bị cú sốc thu nhập nghiêm trọng này năm 2014 vì giá dầu giảm mạnh, chỉ riêng có Venezuela không chịu được.

Nguyên nhân làm cho Venezuela sụp đổ sâu xa hơn, hàng thập kỷ suy giảm kinh tế liên tục dần mở đường cho Chávez, đưa một lãnh đạo mị dân kết hợp với một hệ tư tưởng lỗi thời lên nắm quyền và thiết lập một chế độ chuyên chế tham nhũng mô phỏng theo chế độ độc tài Cuba. Cho dù cuộc khủng hoảng đã đưa Chávez lên nắm quyền, hai điều sau: 'Di sản của Chávez và ảnh hưởng của Cuba' phải được coi là ý chính trong bất kỳ nỗ lực nào để giải thích sự việc.

Chávez sinh năm 1954 trong một gia đình bình thường ở nông thôn, được học bổng và trở thành một sĩ quan quân đội chuyên nghiệp, sớm được bí mật tuyển dụng vào một phong trào cánh tả, dành hơn một thập kỷ âm mưu lật đổ chế độ dân chủ, ông được người dân Venezuela biết đến vào ngày 4/2/1992 khi ông lãnh đạo một cuộc đảo chính không thành công, sự thất bại này đã đưa ông vào tù nhưng cũng biến ông ta thành một người hùng đại chúng, người đã thay họ thể hiện sự thất vọng ngày càng tăng với một thập kỷ trì trệ kinh tế. Sau khi được thả, ông đã ra tranh cử tổng thống vào năm 1998 và giành chiến thắng vang dội, chiến thắng cả hai đảng đã từng gắn kết với nền dân chủ Venezuela trong 40 năm.

Điều gì đã thúc đẩy bùng nổ sự giận dữ dân chúng và đưa Chávez lên nắm quyền? Chỉ một từ: "Thất vọng". Nền kinh tế xuất sắc mà Venezuela đã trải qua trong 5 thập kỷ cho đến những năm 1970 đã hết hơi và con đường rộng mở đưa dân chúng đến tầng lớp trung lưu đã bắt đầu thu hẹp, như các nhà kinh tế học Ricardo Hausmann và Francisco Rodríguez đã cho biết: Vào năm 1970, Venezuela đã là quốc gia giàu nhất ở Mỹ Latinh và là một trong hai mươi quốc gia giàu nhất thế giới với GDP bình quân đầu người cao hơn Tây Ban Nha, Hy Lạp và Israel và chỉ thấp hơn 13% so với Vương quốc Anh. Tuy nhiên, đầu những năm 1980 giá dầu mỏ trên thế giới sụt giảm, thời đại tăng trưởng nhanh chóng chấm dứt, doanh thu từ dầu ít hơn đồng nghĩa với việc cắt giảm chi tiêu công, các chương trình xã hội giảm quy mô, tiền mất giá, lạm phát, khủng hoảng ngân hàng, thất nghiệp cao và người nghèo gặp khó khăn. Tuy nhiên, cần nhớ khi Chávez thắng cử lúc này Venezuela vẫn có thu nhập bình quân đầu người trong khu vực chỉ đứng sau mỗi Argentina.

Một lời giải thích phổ biến khác về thắng lợi của Chávez cho rằng cử tri phản ứng đối với sự bất bình đẳng kinh tế, hậu quả của tham nhũng lan rộng, nhưng tại thời điểm Chávez lên nắm quyền, thu nhập toàn dân được phân bổ đều ở Venezuela hơn bất kỳ quốc gia láng giềng nào. Nếu cho rằng bất bình đẳng kinh tế trong dân chúng đưa đến kết quả bầu cử, thì một ứng cử viên giống như Chávez sẽ có nhiều khả năng thắng cử hơn ở Brazil, Chile hoặc Colombia, nơi mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo lớn hơn rất nhiều.

Venezuela có thể đã không sụp đổ vào năm 1998 nhưng toàn bộ đã bị đình trệ và trong một số mặt nó bị sụt giảm, đến khi giá dầu giảm xuống chỉ còn 11 đô la/thùng đất nước càng chìm sâu vào khủng hoảng. Chávez đã rất nhanh nhạy nắm thời cơ khai thác sự bất mãn trong dân chúng, những tố cáo hùng hồn của ông về sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử, nghèo đói, tham nhũng và giới lãnh đạo chính trị cô lập đã không còn đồng hành với các cử tri đang gặp khó khăn, mọi người hoài cổ về một thời kỳ thịnh vượng trước kia. Những người trong giới tinh hoa chính trị và kinh doanh truyền thống quá tự mãn, trong thời gian vận động bầu cử đã không như Chávez đi sát quần chúng và lấy được lòng của đa số nhân dân lao động.

Dân chúng đã đánh cá số phận vào Chávez, những gì họ nhận được không chỉ là một chính khách mới mẻ cố gắng nâng cao hiện trạng Venezuela mà còn là một biểu tượng cánh tả của Mỹ Latinh và là một người sẽ sớm vang danh thế giới. Chávez trở thành kẻ phá hoại vừa là ngôi sao thu hút tại các hội nghị thượng đỉnh toàn cầu, là người lãnh đạo làn sóng chống Mỹ bùng nổ do Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush chủ trương xâm lược Iraq. Về nội bộ, do ông được đào tạo và trưởng thành từ quân đội, Chávez có thiên hướng tập trung quyền lực và tàn nhẫn với bất đồng chính kiến, ông triệt tiêu không chỉ các chính trị gia đối lập mà cả các đồng minh dám thắc mắc về chính sách của ông, các thuộc cấp của ông nhanh chóng nhận ra: Không còn các cuộc tranh luận về chính sách và chính phủ theo đuổi một chương trình nghị sự thiên tả với rất ít thảo luận hay cân nhắc.

Năm 2001 Chávez bất ngờ ra một sắc lệnh về cải cách ruộng đất mà không có sự tham khảo hay tranh luận nào cảnh báo cho những điều sắp tới. Sắc lệnh này đã phá bỏ các trang trại nông nghiệp lớn và chuyển chúng cho các hợp tác xã nông dân, những người hoàn toàn thiếu bí quyết kỹ thuật, kỹ năng quản lý và vốn để sản xuất ở quy mô công nghiệp. Kết quả sản xuất lương thực sụp đổ, cứ thế hết khu vực  này đến khu vực kinh tế khác, chính phủ Chávez ban hành các chính sách tiền hậu bất nhất. Chính quyền chiếm đoạt các liên doanh dầu mỏ sở hữu nước ngoài mà không cần bồi thường và bổ nhiệm các ủy viên chính trị thiếu chuyên môn kỹ thuật để điều hành chúng, quốc hữu hóa các công ty khai thác viễn thông và các công ty cung cấp năng lượng, đưa đến kết quả thiếu nước và điện kinh niên với một hệ thống Internet có tốc độ chậm nhất thế giới. Chính phủ tịch thu các công ty thép chỉ khiến sản lượng thép từ 480.000 tấn mỗi tháng trước khi quốc hữu hóa năm 2008, ngày nay hầu như là số không, kết quả hầu tương tự sau khi quốc hữu hoá các công ty nhôm, công ty khai thác mỏ, hệ thống khách sạn và hãng hàng không quốc gia.

Hết công ty này đến công ty khác sau khi quốc hữu hoá, được giao lại cho phe cánh của Chávez, khi kinh doanh thua lỗ và gặp khó khăn về tài chính chỉ cần trình lên chính phủ, đều được chính phủ lo thanh toán và bù đắp. Năm 2004 giá dầu tăng vọi, kho bạc nhà nước lấp đầy tiền từ dầu hoả giúp cho Chávez thoải mái chi mà không bị kiểm soát hoặc ràng buộc gì. Trên hết mọi chuyện là các khoản vay quá dễ dàng từ Trung Quốc, China rất sẵn sàng thả cửa tín dụng cho Venezuela để đảm bảo đổi lấy nguồn cung cấp dầu thô, về phía Chávez bằng cách nhập khẩu tất cả mọi thứ mà nền kinh tế rỗng tuyếch của Venezuela không sản xuất được và vay tiền để trám vào khoản thiếu hụt do sự bùng nổ tiêu dùng, chính phủ Chávez đã có thể tạm thời che mắt công chúng khỏi tác động của các chính sách tai hại của mình và duy trì sự tin tưởng của dân chúng.

Nhưng không phải ai cũng bị thuyết phục, công nhân ngành dầu khí là một trong những người đầu tiên gióng lên hồi chuông cảnh báo về xu hướng độc tài của Chávez, công nhân tham gia đình công vào năm 2002 và 2003, yêu cầu một cuộc bầu cử tổng thống mới. Trả đũa các cuộc biểu tình, chính phủ Chávez đã sa thải gần một nửa lực lượng lao động trong công ty quốc doanh dầu mỏ và áp đặt một chế độ nhà nước kiểm soát hối đoái chặt chẽ -hệ thống mà sau này biến tướng thành mỏ vàng cho tham nhũng- khi những viên chức chính phủ nhận ra rằng chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái nhà nước và thị trường chợ đen có thể mang lại giàu có chỉ sau một cú áphe, điều này đã tạo ra một tầng lớp cực kỳ giàu có của các quan chức trong chính phủ, khi những quan chức này hoàn thiện nghệ thuật chuyển số tiền -có được nhờ dầu mỏ- này vào túi của mình, kết quả là các kệ hàng hoá của Venezuela trong siêu thị trở nên trống trải.

Tất cả những dự đoán tồi tệ này đều được công khai, từ các chuyên gia trong nước và quốc tế đã báo động rộng rãi, nhưng đổi lại chính phủ Chávez càng bám chặt vào đường lối của họ, đối với Chávez những cảnh báo khốc liệt từ các nhà kỹ trị lại là dấu hiệu cho thấy cuộc cách mạng của ông đang đi đúng hướng.

Người kế thừa
Năm 2011 Chávez chẩn đoán bị ung thư, các bác sĩ ung thư hàng đầu Brazil và Hoa Kỳ đề nghị điều trị cho ông, nhưng ông đã chọn chữa trị ở Cuba, đất nước mà ông một lòng tin tưởng không chỉ chữa trị mà còn có thể giữ bí mật về bệnh tình của ông. Khi bệnh tình của ông trở nặng, sự lệ thuộc của ông vào Havana ngày càng lún sâu, bí mật về tình trạng sức khỏe thực sự của ông càng thêm mù mờ.

Vào ngày 8/12/2012, một Chávez ốm yếu xuất hiện trên truyền hình lần cuối để yêu cầu người dân Venezuela chuẩn nhận ông Maduro -lúc đó là phó tổng thống- là người kế nhiệm ông, trong suốt ba tháng kế cả nước Venezuela bị chi phối và điều khiển từ xa: Các sắc lệnh gởi đi từ Havana mang chữ ký Chávez -không ai nhìn thấy ông ta và đầy rẫy đồn đoán rằng ông đã chết- cuối cùng khi cái chết của Chávez được công bố vào ngày 5/3/2013, điều duy nhất rõ ràng giữa bầu không khí mờ ảo của bí mật và che giấu là nhà lãnh đạo tiếp theo của Venezuela -ông Maduro- sẽ tiếp tục truyền thống chịu ảnh hưởng của Cuba.

Chávez từ lâu đã xem Cuba như một hình mẫu cách mạng và ông đã nhiều lần gặp Chủ tịch Fidel Castro để xin lời khuyên tại các thời điểm quan trọng, đổi lại Venezuela đã gửi dầu viện trợ năng lượng cho Cuba (dưới dạng 115.000 thùng mỗi ngày được bán với giá giảm đặc biệt) trị giá gần 1 tỷ USD mỗi năm cho Havana. Chávez đã từng nói mối quan hệ giữa Cuba và Venezuela không những thân thiết hơn là một đồng minh mà là một sự hợp nhất của hai cuộc cách mạng. (Đây là một quan hệ bất thường, thường thì trong liên minh, các nước đàn em nghèo hơn và nhỏ hơn so với đồng minh cấp trên, nhưng ở đây ngược lại Cuba có thẩm quyền hơn rất nhiều và chi phối mối quan hệ.) Cuba rất cẩn thận để giữ mình đằng sau bức màn sân khấu: hầu hết các cuộc tham vấn xảy ra tại Havana chứ không trực tiếp tại Caracas.

Người mà ông Chávez chọn làm thừa kế -ông Maduro- đã không thoát khỏi sự chú ý của công luận, ông Maduro là người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản Cuba, khi còn trẻ Maduro đã tham gia đảng Marxist thân Cuba ở Caracas, vào tuổi 20 thay vì học đại học ông đã theo học khóa đào tạo tại Havana nhằm huấn luyện cán bộ quốc tế trở thành các nhà cách mạng chuyên nghiệp. Từ năm 2006 đến 2013 khi là bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Chávez ông hiếm khi gây sự chú ý đến bản thân mình, chỉ có lòng trung thành tuyệt đối của ông đối với Chávez, riêng quan hệ với Cuba được ông đẩy ông lên đỉnh cao mới, dưới sự lãnh đạo của ông ảnh hưởng của Cuba tại Venezuela đã trở nên phổ biến, ông đã sắp xếp các chức vụ quan trọng của chính phủ cho các nhà hoạt động được đào tạo từ Cuba và người Cuba đã chiếm giữ các vai trò nhạy cảm trong chế độ Venezuela. Ví dụ điển hình, tóm tắt thông tin tình báo hàng ngày tường trình cho Maduro, được biên soạn không phải bởi người Venezuela mà bởi các sĩ quan tình báo Cuba.

Với sự hướng dẫn của Cuba, Maduro đã hạn chế tối đa các quyền tự do kinh tế và xóa bỏ mọi dấu vết còn lại của chủ nghĩa tự do khỏi nền chính trị và thể chế của đất nước, ông đã kế tục và mở rộng chính sách của Chávez về việc bỏ tù, lưu đày hoặc cấm các nhà lãnh đạo đối lập sinh hoạt chính trị, những người trở nên quá nổi tiếng hoặc không thể mua chuộc. Julio Borges -một nhà lãnh đạo đối lập hàng đầu- đã phải lưu vong để tránh bị bỏ tù, Leopoldo López nhà lãnh đạo đình đám của phe đối lập, đã bị quản thúc tại gia sau. Hơn 100 tù nhân chính trị vẫn còn bị giam trong nhà tù và các báo cáo về tra tấn rất phổ biến. Các cuộc bầu cử định kỳ đã trở nên xa vời, chính phủ đã tước bỏ quyền lực của Quốc hội đang do các đảng đối lập kiểm soát. Maduro đã tăng cường liên minh với một số chế độ chống Mỹ và chống phương Tây, xoay sang Nga để tìm kiếm vũ khí, an ninh mạng và chuyên môn trong khai thác dầu mỏ, với Trung Quốc để tìm tài trợ tài chánh và xây dựng cơ sở hạ tầng, tìm đến Bêlarut với xây dựng nhà cửa và đến với Iran về sản xuất xe hơi.

Khi Maduro cắt đứt các liên kết cuối cùng còn lại trong liên minh truyền thống giữa Venezuela với Washington và các nền dân chủ Mỹ Latinh khác chung quanh, ông đã để mất đi những lời khuyên kinh tế sáng suốt, ông làm lơ về cảnh báo mà mọi thể chế chính trị đều đồng ý: Mặc dù mọi người đều cảnh báo về lạm phát, Maduro đã nghe theo lời khuyên của Cuba và các cố vấn Marxist -những người đảm bảo với ông rằng sẽ không có hậu quả gì hết- khi ông cho in tiền ra để bù đắp thiếu hụt ngân sách. Không thể chối cãi, một cơn lạm phát siêu khủng xảy ra sau đó.

Một sự kết hợp độc hại của ảnh hưởng từ Cuba, tham nhũng tràn lan, phá bỏ hệ thống kiểm tra và cân bằng dân chủ với sự bất tài lãnh đạo đã khiến Venezuela bị khóa cứng vào các chính sách kinh tế tồi tệ. Khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên đến ba chữ số, chính phủ phản ứng bằng các chính sách bất nhất càng làm cho tình hình tồi tệ hơn.

Phân tích một sụp đổ.
Gần như tất cả các nền dân chủ tự do sản xuất dầu mỏ như Na Uy, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã là các nền dân chủ trước khi họ trở thành nhà sản xuất dầu, các chế độ chuyên chế đã tìm thấy dầu  chẳng hạn như Angola, Brunei, Iran và Nga đã không thể thực hiện bước nhảy vọt cho nền dân chủ tự do. Trong bốn thập kỷ Venezuela dường như đã đánh bại một cách kỳ diệu những so sánh trên, được dân chủ hóa và tự do hóa vào năm 1958, nhiều thập kỷ sau khi Venezuela tìm thấy dầu mỏ.

Nhưng xét ra gốc rễ của nền dân chủ tự do Venezuela hóa ra rất nông cạn, chỉ hai thập kỷ kinh tế tồi tệ đã làm suy giảm sự ái mộ các đảng chính trị truyền thống, và chỉ dựa vào làn sóng bùng nổ dầu mỏ mà một nhà lãnh đạo mị dân đã phạm lỗi, trong những điều kiện bất thường này ông ta đã có thể quét sạch toàn bộ cấu trúc của hệ thống kiểm tra và cân bằng dân chủ chỉ trong vòng vài năm.

Khi sự bùng nổ giá dầu kéo dài hàng thập kỷ kết thúc vào năm 2014, giá dầu sụt giảm không chỉ làm chính phủ của Chávez mất doanh thu và ảnh hưởng quốc tế, mà còn tác động vào nguồn tín dụng của nước ngoài, các khoản vay tín dụng được rút ra trong thời kỳ bùng nổ dầu mỏ khiến cho đất nước mang khoản nợ quá lớn và nó vẫn phải được tiếp tục trả từ dòng tiền thu nhập đã bị giảm rất nhiều. Venezuela đã đi đến kết thúc với khuôn mẫu chính trị của 'chế độ chuyên chế phát hiện ra dầu mỏ': Trở thành nhóm đầu sỏ bóc lột, dựa vào thiểu số chính trị rồi phớt lờ đa số quần chúng khi họ im lặng, đàn áp dữ dội khi họ phản kháng.

Kết quả đưa đến cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ nhất trong lịch sử Tây bán cầu, không có số liệu chính xác về sụp đổ GDP của Venezuela nhưng các nhà kinh tế có thể so sánh với mức giảm 40% của GDP Syria kể từ năm 2012 sau khi bùng nổ nội chiến. Siêu lạm phát đã đạt tới một triệu phần trăm mỗi năm, đẩy 61% người Venezuela sống trong tình trạng cực kỳ nghèo khổ, 89% những người được khảo sát nói rằng họ không có tiền để mua đủ lương thực cho gia đình và 64% cho biết họ đã mất trung bình 11 kg (khoảng 24 pounds) trọng lượng cơ thể do đói. Khoảng 10% của số dân 2,6 triệu người Venezuela đã trốn sang các nước láng giềng.

Nhà nước Venezuela đã hủy bỏ phần lớn việc cung cấp các dịch vụ công cộng như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và thậm chí là trị an. Đàn áp và bạo lực lan tràn là những gì mà người Venezuela nhận được từ chính quyền. Các cuộc biểu tình rầm rộ vào năm 2014 và 2017, chính phủ đã đáp trả bằng hàng ngàn vụ bắt giữ, đánh đập và tra tấn dã man và giết chết hơn 130 người biểu tình.

Trong khi đó, tội phạm kinh tế ngày càng được tiến hành công khai bất chấp luật pháp trực tiếp thông qua chính quyền, nạn buôn bán ma túy đã nổi lên cùng với sản xuất dầu mỏ và chênh lệch hối đoái như một nguồn lợi nhuận chính cho những người thân cận với giới cầm quyền cao cấp, quan chức cấp cao và thành viên của gia đình tổng thống đối mặt với các cáo buộc ma túy ở Hoa Kỳ, tầng lớp nhỏ quyền qúy cũng đã biển thủ tài sản quốc gia ở một mức độ chưa từng thấy. Vào tháng 8, một loạt các doanh nhân liên hệ mật thiết đến chế độ đã bị truy tố tại tòa án liên bang Hoa Kỳ vì tội rửa tiền hơn 1,2 tỷ đô la tiền bất hợp pháp, đây chỉ là một trong những vụ lừa đảo bất hợp pháp từ Venezuela

Toàn bộ khu vực phía đông nam của đất nước đã trở thành một khu mỏ khai thác bất hợp pháp, nơi những người rời khỏi thành phố vì đói, thử vận ​​may trong các mỏ do các băng đảng tội phạm dưới sự bảo vệ của quân đội. Trên khắp đất nước, các băng đảng tù tội, hợp tác với các lực lượng an ninh chính phủ, điều hành các vụ tống tiền béo bở khiến chúng trở thành nỗi sợ hãi cho dân chúng. Các văn phòng của Kho bạc, ngân hàng trung ương và công ty dầu khí quốc gia đã trở thành các trung tâm điều hành các tội phạm tài chính, khi nền kinh tế Venezuela sụp đổ, ranh giới giữa tội phạm và nhà nước đã biến mất.

Rắc rối của Venezuela
Bất cứ khi nào Tổng thống Donald Trump gặp một nhà lãnh đạo Mỹ Latinh ông cũng đề nghị phải làm gì đó về khủng hoảng ở Venezuela. Trump đã yêu cầu hội đồng an ninh quốc gia của ông đưa ra các khuyến cáo về các phương án 'khả thi' và có lúc khi nói về 'các phương án' ông từng nhắc đến việc 'không loại trừ can thiệp quân sự'. Thượng nghị sĩ Cộng hòa Marco Rubio của Florida cũng từng tỏ ý ủng hộ một phản ứng quân sự. Tuy nhiên Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đã lặp lại một ý kiến phổ thông trong dân chúng, cho rằng "Cuộc khủng hoảng ở Venezuela không phải là vấn đề quân sự", ngay cả các quốc gia láng giềng của Venezuela cũng lên tiếng phản đối tấn công vũ trang vào Venezuela.

Đúng vậy, ảo tưởng của Trump về cuộc xâm lược quân sự là sai lầm trầm trọng và cực kỳ nguy hiểm, cho dù một cuộc tấn công quân sự do Hoa Kỳ lãnh đạo có thể sẽ không gặp trở ngại trong việc lật đổ Maduro ngay tức khắc, nhưng những diễn biến tiếp theo có thể còn tệ hơn như trường hợp Iraq và Libya mà ta đã thấy: khi các thế lực bên ngoài lật đổ các nhà độc tài cai trị các quốc gia đổ vỡ, nhiều khả năng kết quả sẽ mang đến thêm hỗn loạn hơn là ổn định, chứ đừng mong đến dân chủ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực để tìm cách cảnh báo sự sụp đổ của Venezuela, các sáng kiến được thực hiện cho đến nay chỉ chứng minh rằng trên thực tế Hoa Kỳ chỉ có thể làm được rất ít. Trong thời Obama, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã cố gắng tiếp cận trực tiếp với chính phủ Venezuela, nhưng các cuộc đàm phán đã tỏ ra vô ích. Maduro đã sử dụng các trung gian quốc tế để đàm phán nhằm vô hiệu hóa các cuộc biểu tình lớn trên đường phố, yêu cầu các nhà lãnh đạo biểu tình ngừng các cuộc biểu tình trong suốt thời gian đàm phán, nhưng các nhà đàm phán của chính phủ sẽ chỉ cù nhầy, đưa ra những nhượng bộ nhỏ được tính toán để chia rẽ đối thủ trong khi họ chuẩn bị cho làn sóng đàn áp tiếp theo. Hoa kỳ và các nước láng giềng của Venezuela cuối cùng đã hiểu được rằng, khi đường phố đi vào ổn định, các cuộc đàm phán chỉ diễn ra dưới tay đạo diễn của Maduro.

Một vài đề nghị sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế mạnh mẽ để gây áp lực buộc Maduro phải từ chức, cả hai chính quyền Obama và Trump đã thử thông qua nhiều vòng trừng phạt nhằm ngăn chặn chế độ Maduro vay nợ mới và ngăn chặn dòng tài chính của công ty dầu khí nhà nước. Cùng với Canada và EU, Washington đã có các biện pháp chế tài với các quan chức như đóng băng tài sản của họ ở nước ngoài và hạn chế đi lại, nhưng các biện pháp trên là dư thừa, nếu mục tiêu là phá hủy nền kinh tế Venezuela thì không có biện pháp trừng phạt nào phá hủy nhanh bằng chính chế độ đó đang làm, điều tương tự cũng hoàn toàn đúng đối với việc phong tỏa dầu hoả: sản xuất dầu mỏ tự nó đã ở vào tình trạng rơi tự do rồi.

Washington có thể tăng cường chính sách mấu chốt của mình ở một khía cạnh khác là: Cuba cần phải có trách nhiệm hơn trong vấn đề này, có nghĩa là trong mọi quan hệ giữa Washington và Cuba thì Venezuela phải là đối tượng trực tiếp và trung tâm vì mọi cố gắng sẽ không đạt được gì nếu không có sự giúp đỡ từ Cuba. Hoa Kỳ có thể phát triển việc chống tham nhũng mạnh hơn, ngăn chặn không chỉ các quan chức phạm tội nhưng có thể cả việc ngăn chặn các thủ lĩnh và gia đình của họ hưởng những thành quả từ tham nhũng hay buôn bán ma túy và tham ô. Hoa kỳ cũng có thể mở rộng lệnh cấm vũ khí thành toàn cầu, chế độ Maduro phải bị hạn chế với một mục tiêu rõ ràng cho những tay chân trung thành đang tiếp tục nuôi dưỡng chế độ hiểu là việc tiếp tục hỗ trợ chế độ sẽ khiến họ bị cô lập ở Venezuela, nhưng triển vọng thành công của một chiến lược như vậy rất mờ mịt.

Sau một thời gian dài lúng túng các quốc gia Mỹ Latinh khác cuối cùng cũng hiểu rằng sự bất ổn của Venezuela sẽ tràn qua biên giới của họ. Khi làn sóng đỏ thiên tả của những năm đầu thế kỷ thoái trào, các nhà lãnh đạo mới bảo thủ hơn ở Argentina, Brazil, Chile, Colombia và Peru đã cân bằng cán cân trong khu vực chống lại chế độ độc tài Venezuela, nhưng cũng đồng thời thiếu đi sự đồng thuận giữa họ, ngoại giao truyền thống đã không đạt mục đích và thậm chí đã phản tác dụng cũng như không tạo được áp lực gì. Chẳng hạn, năm 2017 các quốc gia Mỹ Latinh đe dọa loại Venezuela ra khỏi Tổ chức các quốc gia châu Mỹ, Venezuela đã phản ứng bằng cách đơn phương rút khỏi tổ chức, cho thấy họ không hề quan tâm đến áp lực ngoại giao truyền thống.

Các láng giềng của Venezuela chứng kiến cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng hơn qua lăng kính từ vấn đề người tị nạn, họ lo lắng ngăn chặn dòng người suy dinh dưỡng chạy trốn khỏi Venezuela và đặt thêm gánh nặng vào các chương trình xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân túy dâng lên phản ứng chống lại dòng người tị nạn Venezuela, một số nước Mỹ Latinh có ý đóng cửa khẩu nhưng lại sợ là một sai lầm chỉ làm tồi tệ thêm cuộc khủng hoảng, trong thực tế các nước Mỹ Latinh đã không biết phải làm gì với Venezuela, điều có thể bây giờ chỉ là chấp nhận người tị nạn, điều này ít nhất cũng giúp giảm bớt nỗi khổ của người dân Venezuela.

Quền lực của dân chúng.
Nên nhớ, chế độ đã bắt rễ sâu và chặt chẽ đến nỗi một sự thay đổi của khuôn mặt lãnh đạo dễ hơn là một sự thay đổi của hệ thống.
- Có thể Maduro sẽ bị thay thế bởi một người kém tài hơn nhưng có khả năng giúp Cuba nắm chắc quyền lực tại Venezuela hơn, kết quả như vậy chỉ có nghĩa là nền thống trị nước ngoài vững chắc hơn, chứ không phải là sự trở lại của nền dân chủ.
- Ngay cả khi các lực lượng đối lập -hay một cuộc tấn công vũ trang do Hoa Kỳ lãnh đạo- bằng cách nào đó đã xoay sở để thay thế Maduro bằng một chính phủ mới hoàn toàn, chương trình nghị sự sẽ rất khó khăn.
Một chế độ kế nhiệm sẽ cần phải giảm vai trò to lớn của quân đội trong tất cả các lĩnh vực của khu vực nhà nước, họ sẽ phải bắt đầu lại việc khôi phục các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục và thực thi pháp luật. Họ sẽ phải xây dựng lại ngành công nghiệp dầu mỏ và kích thích tăng trưởng sản xuất các ngành kinh tế khác. Nhà nước phải thoát khỏi những kẻ buôn ma túy, bọn bất hảo, bọn cướp tài nguyên, những tài phiệt tài chính và những kẻ tống tiền đã bám lấy mọi ngóc ngách trong chính phủ và nó sẽ phải thực hiện tất cả những thay đổi này trong bối cảnh môi trường chính trị độc hại, vô chính phủ và khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

Với quy mô của những trở ngại này Venezuela có thể sẽ không thể ổn định được trong thời gian dài sắp tới, thách thức trước mắt đối với dân chúng và các nhà lãnh đạo của họ cũng như đối với cộng đồng quốc tế là ngăn chặn tác động suy thoái của quốc gia. Đối với tất cả những đau khổ mà họ đã trải qua, người dân Venezuela chưa bao giờ ngừng đấu tranh chống lại sự sai trái, tính đến mùa hè này người Venezuela vẫn đang tổ chức hàng trăm cuộc biểu tình mỗi tháng, hầu hết người biểu tình là những người địa phương với ít sự lãnh đạo chính trị, nhưng họ cho thấy rõ ý chí chiến đấu cho chính họ.

Tất cả điều đó có đủ để lái đất nước ra khỏi con đường nghiệt ngã hiện tại không? Chắc là không.

Sự tuyệt vọng đang khiến ngày càng nhiều người Venezuela mơ về một can thiệp quân sự do Trump lãnh đạo, điều này mang đến một ảo mộng mãnh liệt cho một dân tộc đau khổ kéo dài, nhưng điều này chỉ có nghĩa là một ảo vọng không sáng suốt, không là một chiến lược nghiêm túc.

Thay vì một cuộc xâm lược quân sự, hy vọng tốt nhất cho Venezuela là đảm bảo rằng những ngọn lửa phản kháng và bất đồng chính kiến xã hội không bị dập tắt và duy trì được sự chống đối với chế độ độc tài. Cuộc phản kháng này một ngày nào đó có thể đặt nền móng cho sự phục hồi các tổ chức dân sự và dân chủ, chắc chắn không dễ dàng và không thể nhanh chóng. Mặc dù tình hình có vẻ tuyệt vọng, nhưng vực dậy một quốc gia từ bờ vực thất bại chưa bao giờ dễ dàng.

Chuyển ngữ 42.

https://www.foreignaffairs.com/articles/south-america/2018-10-15/venezuelas-suicide