"Trước đây... Hongkong chỉ là nơi tá túc vay mượn, nhưng sau cuộc bạo loạn mọi người hiểu ra rằng Hongkong là ngôi nhà của chính họ"
Cuộc bạo loạn từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1967, tổng cộng 51 người thiệt mạng và hơn 800 người bị thương, hơn 8.000 quả bom đã phát nổ (phần lớn là các vụ nổ có kiểm soát, do cảnh sát phá hủy), trong đó có khoảng 1.100 quả là bom thật.
Hồng Kông là một nơi rất khác biệt cách đây nửa thế kỷ, rất nhiều người dân là những người tị nạn từ cuộc hỗn loạn tại nội địa Trung Quốc, những người tị nạn đã tá túc, dựng nhà của họ trong các trại tị nạn, các vùng đất vô chủ tồi tàn, các sườn đồi tràn nghập khu ổ chuột, nơi không có nước sinh hoạt hoặc nhà vệ sinh, việc làm không có và nhà chủ có thể thoải mái chọn người họ muốn, nhưng bằng cách nào đó mọi người sống sót, là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng sự bất mãn trong dân chúng.
Vào đầu 1967, tác động của Cách mạng văn hoá từ Trung Quốc bắt đầu ảnh hưởng lên Hồng kông, công nhân bị sa thải mang tâm lý bị đối xử bất công. Các cuộc bạo loạn tại Macau nổ ra 12/1966 và 5/1967, sự leo thang tranh chấp lao động tại một nhà máy sản xuất hoa giấy ở San Po Kong-Cửu Long đánh dấu sự khởi đầu của các cuộc đụng độ sẽ làm rúng động Hồng Kông sau này.
Vào lúc 1 giờ chiều ngày 6/5 thì sự việc rắc rối tại nhà máy sản xuất hoa giả Hồng Kông xảy ra, tại nhà máy các công nhân đình công vì bất bình về tiền lương và việc sa thải 29 công nhân chạy máy, hôm sau các đại diện công đoàn đưa thỉnh nguyện rồi mọi người giải tán.
Biểu tình tiếp tục xảy ra, cảnh sát phản ứng cứng rắn, bắn đạn cay và dùng dùi cui, và rồi rắc rối lan sang Wong Tai Sin, đến Đông Cửu Long và tập trung tại Shek Kip Mei.
Số ra ngày 12/5 của tờ South China Morning Post viết rằng: Chỉ 13 tháng sau cuộc nổi loạn [Star Ferry] năm ngoái, đêm qua một phần của Cửu Long một lần nữa bị lệnh giới nghiêm sau các cuộc đụng độ giữa cảnh sát chống bạo động và đám đông công nhân và thanh thiếu niên.
Sự phẫn nộ tiếp tục âm ỉ và sôi sục suốt mùa hè, nhưng sau những cuộc đình công và biểu tình ôn hoà ban đầu, mọi người bắt đầu nhận ra rằng các vấn đề chính trị mới là cốt lõi của phong trào lao động, và rồi mọi thứ trở nên tồi tệ. Nhiều người bắt đầu không ủng hộ phong trào lao động một khi nó xử dụng đến bạo lực trắng trợn bằng cách đặt bom khắp nơi -khủng bố đô thị- là một thuật ngữ chính xác để mô tả tình hình trong nửa cuối năm 1967. Phong trào lao động cánh tả dần biến thành phong trào khủng bố.
Bạo động
Giới giàu có tại Hồng Kông bắt đầu tìm cách rời khỏi khi tình trạng bạo động ngày tăng lên, nững người biểu tình -chống chính phủ- copy nguyên bản của cuộc Cách mạng văn hoá đang nở rộ tại TQ, mọi người mặc sơmi trắng với quần xám, đeo hình lãnh tu Mao trên ve áo. Các loại bom tự chế được đặt khắp nơi trong thành phố, đa số là bom giả nhưng chỉ cần vài quả bom thật trong số đó cũng đủ để khủng bố tinh thần dân chúng, sự sợ hãi gieo rắc vào dân chúng đến độ khi thấy một cái lon cũ bên vệ đường, vì sợ là bom, người ta sẵn sàng đi phía bên kia để tránh nó.
Tại trường trung học Chung Hwa, học sinh được yêu cầu chế bom trong lab của trường, gây ra tai nạn làm nổ đứt cánh tay của một học sinh, 18 tuổi Siu Wai -trường này sau bị đóng cửa vĩnh viễn với tội danh: phổ biến giáo trình học cộng sản với ý đồ nuôi dưỡng sự thù địch và bạo động- một ngày sau vụ tai nạn, cảnh sát cũng lục soát 4 trường khác có cùng khuynh hướng giáo trình-cộng sản là trường: Mongkok Workers’ Children School, Heung To Middle School, Western’s Hon Wah Middle School và Fukien Middle School.
Khủng bố càng ngày càng trầm trọng, ngày 20/8 bé gái Wong Yee-man 8 tuổi và em trai 2 tuổi Wong Siu-fan lượm được một hộp giấy cạnh Kiangsu Chekiang college, hai em ôm về nhà thì bom phát nổ, cô bé chết tại chổ vì thủng bụng, cậu em chết trên đường cấp cứu.
Ngày 24/8 Lam Bun, một phát thanh viên radio với những chỉ trích về chủ nghĩa cánh tả cực đoan cùng người em họ lái xe đi làm thì bị chặn lại, tưới xăng lên người và đốt, cả hai anh em chết vì bỏng nặng vài ngày sau trong bệnh viện. Giết chóc làm dân chúng thêm hoảng loạn, dân Hồng Kông bắt đầu quay lại chống thành phần cánh tả.
Ngày 8/7, Khảng 300 dân quân có vũ trang TQ và người biểu tình đã tấn công đồn cảnh sát trên khu vực biên giới giới hạn 2 dặm, giết chết 5 cảnh sát, vây đồn cảnh sát, nhốt toàn bộ 86 cảnh sát trong toà nhà Ủy ban thôn Shataukok khoảng 10 tiếng.
Hạ sỹ Fung Yin-ping, thư ký Kong Shing-kai, Mohamed Nawaz Malik, Khurshid Ahmed và Wong Loi-hing đã bị mất mạng trước khi chính quyền Anh quốc kịp điều 500 lính Gurkha thuộc lữ đoàn 48 Bộ binh tại Sek Kong -đóng quân tại Sha Tow Kok và dọc biên giới phía Tây- đến để giải cứu, phá vỡ vòng vây.
Những người nông dân đại lục tại biên giới luôn biểu thị bằng cách vừa đi vừa hát những bài hát cách mạng, mang theo các biểu ngữ màu đỏ khi họ phải đi qua biên giới Hồng Kông để canh tác mùa màng của họ.
Ngày 29/2, hai cảnh sát làm nhiệm vụ tuần tra vô tình chạy xe máy qua biên giới và bị băt giữ, khi thanh tra cảnh sát cấp cao Frank Knight cùng phái đoàn đi điều tra, sau hồi tranh luận lớn tiếng tại hàng rào biên giới ông đã bị một nhóm nông dân xúm lại lôi qua cầu biên giới.
Hệ quả là cây cầu thông thương qua Hồng Kông bị chắn lại, việc di chuyển qua biên giới chấm dứt, những nông dân đại lục ủ rũ vì mùa màng không được chăm bón, dân Hồng Kông tức giận vì việc giam giữ các cảnh sát viên HK. Ông Akers Jones và ông cố vấn chính trị Kenneth Kinghorn được đưa đến đàm phán với các giới chức TQ, cuộc đàm phán bắt đầu với thủ tục đọc ba câu từ cuốn sách đỏ "Mao tuyển", kết qủa chính quyền Hồng Kông phải trả tiền đền bù cho các cây trồng bị hư hại do đóng cửa biên giới, phía TQ thả 2 cảnh sát cùng vũ khí và tư trang.
Vào khoảng 12/1967 cuộc bạo loạn quay cuồng như lốc xoáy cuối cùng đã lắng xuống, chính thời gian này rất nhiều cải cách xã hội lớn, những nền tảng mới được đặt ra và định hình xã hội Hồng Kông sau này, chính quyền sau cuộc bạo loạn nhận ra sự thờ ơ với dân chúng đã tự thay đổi, thành lập những Văn phòng hội đồng quận -District Council offices- để cho những người dân bình thường có thề truyền đạt nhu cầu của họ, vụ bạo loạn đã làm thay đổi mối quan hệ giữa dân chúng và chính quyền sâu sắc.
Chính quyền thuộc địa Anh đã nhận ra tầm quan trọng của việc lắng nghe công chúng và do đó, mối quan hệ cộng đồng đã được tăng cường, không lâu sau đó vào năm 1971 Hồng Kông đã có một thống đốc mới, Murray MacLehose.
Ông đã chủ động công khai chủ trương nhà ở công cộng và giáo dục miễn phí, việc cải thiện dịch vụ xã hội công cộng, nhiều người đã chạy trốn khỏi cuộc Cách mạng Văn hóa ở trong các khu định cư tồi tàn ở Cửu Long, dưới khu Lion Rock vào năm 1972 bắt đầu nhìn thấy một Hồng Kông tiến lên thoát ra khỏi nghèo đói.
Quốc tịch Hồng Kông được phát triển lần đầu tiên vào năm 1967, trước khi xảy ra sự cố rất nhiều người nghĩ Hồng Kông chỉ là một nơi tá túc vay mượn, nhưng sau các cuộc bạo loạn, mọi người biết rằng Hồng Kông chính là nhà của họ và họ sẽ không quay trở lại Trung Quốc nữa.
42 Phỏng dịch.
“Looking Back – Hong Kong 1967 Riots,” South China Morning Post archives.
https://www.scmp.com/magazines/post-magazine/long-reads/article/2089195/witnesses-anarchy-1967-riots-hong-kong-some-those
Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019
Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019
Chuyện kể của Mai Hoà.
CHUYỆN BUỒN, CHUYỆN VUI NHỚ CHUYỆN CHIẾN TRƯỜNG !
Viết cho Trần Văn Lại nhân dịp 27/7/2017.
Mỗi khi có dịp vào Nam dù là theo đoàn CCB E205 hay cá nhân mình thường dành thời gian đi thăm lại chiến trường xưa. Đi với ai? Người mà nghĩ đến đầu tiên ở Sài Gòn là Mai Đăng Tiến, chia tay Trung đoàn từ tháng 10/1977 mãi cho đến năm 2010 mình mới liên lạc được với ông này qua ông Trường Bắc Giang. Khỏi cần biết Tiến giầu hay nghèo, sự nghiệp ra sao? Lý do là với những anh em bạn bè đồng ngũ Bắc vô Tiến nhiệt tình số 1 trong số những đồng đội định cư ở Sài Gòn.
Viết cho Trần Văn Lại nhân dịp 27/7/2017.
Mỗi khi có dịp vào Nam dù là theo đoàn CCB E205 hay cá nhân mình thường dành thời gian đi thăm lại chiến trường xưa. Đi với ai? Người mà nghĩ đến đầu tiên ở Sài Gòn là Mai Đăng Tiến, chia tay Trung đoàn từ tháng 10/1977 mãi cho đến năm 2010 mình mới liên lạc được với ông này qua ông Trường Bắc Giang. Khỏi cần biết Tiến giầu hay nghèo, sự nghiệp ra sao? Lý do là với những anh em bạn bè đồng ngũ Bắc vô Tiến nhiệt tình số 1 trong số những đồng đội định cư ở Sài Gòn.
Ngồi với Tiến trên lầu của quán Bia Hà Nội tại đường Nguyễn Thị Minh Khai vào một buổi trưa mình biết thêm về Lại. Phải nói thật là một trong những bất ngờ thú vị khi biết Lại có vợ là cô bạn học cùng lớp với mình trong 3 năm cấp III, từ đó mới liên lạc thường xuyên với Lại. Đi với Tiến mình được biết thêm nhiều bất ngờ, một trong những câu chuyện đó là gặp gỡ gia đình anh Sáu Nọ ở Bàu Cỏ, gặp Quy ở Lộc Tấn…
Chuyện anh Sáu kể trong và sau bữa nhậu cuốn hút suốt đêm, trong đó Lại là một phần của thời 1975. Nhân dư âm ngày buồn 27/7 mình muốn chia sẻ tới anh Lại về trận đánh đồn Thốt Nốt ngày 13/01/1975, với tinh thần là biết gì kể nấy vì mỗi cá nhân chỉ biết một phần của sự kiện, góp nhặt câu chuyện buồn xưa, anh Lại có mang đại liên tăng cường cho bọn mình trận này nhưng chứng kiến còn có những ai khác?
Sau trận Suối Đá ngày 07/12/1974 mấy ngày, cả Tiểu đoàn 1 vượt sông Vàm cỏ qua đất Cambodia rồi về rừng Nhum (rừng có cây nhum nên gọi rừng Nhum, anh em mình hay gọi rừng Nhôm), tại đây đã thấy truyền đơn của bên kia rải xuống rừng nói về E205 tại Suối Đá rồi, nội dung là đại bại.
Mình nhớ, địch chỉ ném trái láng chứ không hề bắn ra một viên đạn nhọn, địch không hề chạy hết sau khi ĐH10 nổ và chỉ còn tên bị thương nằm ném trái như lời đồn đại, tuy nhiên số còn trong đồn có thể chỉ vài tên.
Mất mát trận này C1 mất rất nhiều lính kì cựu từ thời Vĩnh Phú, Nam Hà, Bắc Thái xưa và thông tin tiểu đoàn…Riêng ông Việt cà lăm mình không hề ấn tượng, mình không thấy hình ảnh của ông Đại đội trưởng này qua trận Suối Đá và trận này.
Mình chỉ viết những gì mình thấy, không có ý hơn thua, như đã nói: mình chứng kiến một phần sự kiện đau lòng này, ví như thầy bói xem voi sờ chỗ nào thì phán chỗ ấy, mình đã tự về Long Khánh 2 lần và còn muốn về thăm nữa.
Hy vọng sẽ được bổ sung thêm trong ngày gặp mặt 28/8/2017.
Viết dài, lan man chịu khó đọc nhé ! — với Tran van Lai.
Phụ lục:
Trở lại Long Khánh sau ngày 30/4 được người dân kể lại:
Địch đổ quân bằng cam nhông chặn đường rút của ta nhưng do sương mù nên không phát hiện được hướng rút, mặt khác ta cứ thẳng hướng về rừng Nhum địch lại dự đoán hướng khả nghi nên an toàn.
Địch cho xe bịt kín chở tử sỹ đi luôn sáng sớm người dân ko được đến gần nên không rõ, địch gom anh em hy sinh đặt trên đường xe bò sau 1 ngày thì người dân Cao Đài xin phép chôn anh em, giống như việc chôn cất ở Suối Đá 07/12/1974.
Có chuyện anh Sáu bị thương nặng nhưng chưa chết, sáng tỉnh dậy biết ko qua khỏi nên đã rút chốt da láng tự vẫn (?).
Cũng nghe dân kể: Sau khi DH10 nổ địch bỏ chạy khỏi đồn, chỉ có một người lính bị thương mang theo một đứa con trai vào đồn vì vợ chồng bỏ nhau, người lính đó hướng dẫn con thẩy trái láng ra lỗ châu mai tường hộp. Sát thương khủng khiếp, 12 anh hy sinh tại chỗ, 1 hy sinh tại phẫu, bị thương đáng kể.
Sau trận Suối Đá ngày 07/12/1974 mấy ngày, cả Tiểu đoàn 1 vượt sông Vàm cỏ qua đất Cambodia rồi về rừng Nhum (rừng có cây nhum nên gọi rừng Nhum, anh em mình hay gọi rừng Nhôm), tại đây đã thấy truyền đơn của bên kia rải xuống rừng nói về E205 tại Suối Đá rồi, nội dung là đại bại.
Đại đội 1 quân số còn rất mạnh, lính trải qua Chiến dịch Bù Bông – Kiến Đức và được mấy anh cán bộ đi học về bổ sung. C1 làm thao trường bằng cành cây mô hình chốt Thốt Nốt trong rừng Nhum để luyện tập, chiến thuật kỳ tập (kiểu như đánh Suối Đá) là bí mật cắt rào, đánh bộc phá phá rào rồi tràn diệt địch trong tường hộp và đánh nhà chỉ huy bằng hỏa lực, không hiểu sao Trung đoàn vẫn ngoan cố chơi kiểu này vì bộ binh và C1 cũng chưa từng thành công, đồn Thốt Nốt hình tam giác, bên trong có nhà chỉ huy và tháp canh, ba góc tam giác là 3 lô cốt bát úp.
Phương án tác chiến: Đánh đồn bằng cả 3 mũi trong đó mũi chủ công (anh Việt cà lăm C trưởng và anh Sáu Chính trị viên phó chỉ huy) được phá rào bằng mìn ĐH10 với giá 3 quả, mình đi mũi này, 2 mũi còn lại chỉ dùng 1 quả ĐH10. Một mũi do anh An C phó chỉ huy (Minh, Nga Thiện đi mũi này), mũi còn lại mình ko rõ ai chỉ huy (Trường, Bắc Giang đi mũi này). Phá rào giữa cạnh đồn không thẳng lô cốt, thêm một bộc phá sào dọn rào nếu rào chưa sạch, nếu sạch rào bằng mìn ĐH10 rồi thì sẽ dùng bộc phá sào phá tường hộp, bộ đội xông vào phát triển ra hai bên diệt địch.
Diễn biến trận đánh.
Xuất phát từ rừng Nhum từ mờ tối, theo ruộng của dân đến đồn Thốt Nốt trong đêm, mình đeo một trái ĐH10 đến cách đồn 1 quãng gần hàng rào thép gai thì dừng lại tổ hợp trên một cái giá tam giác có cọc chống thành cụm 3 quả, khi đó nhóm của Tạo trinh sát tiểu đoàn đã cắt rào. Được lệnh tiếp cận hàng rào mình cùng Thực (Hàm Rồng – Hoằng Hóa) khênh giá ĐH10 vào vị trí, anh Sáu dù là Chính trị viên phó nhưng rất xông xáo trong việc đấu kíp điện và kiểm tra giá mìn, chính anh là người bấm điện cho ĐH10 nổ. Phương án đã nói ở trên, có 1 bộc phá sào dự phòng cho việc ĐH10 nếu không phá sạch hàng rào, nếu hàng rào được quét sạch sẽ dùng bộc phá sào thọc lỗ châu mai phá tường hộp.
Xuất phát từ rừng Nhum từ mờ tối, theo ruộng của dân đến đồn Thốt Nốt trong đêm, mình đeo một trái ĐH10 đến cách đồn 1 quãng gần hàng rào thép gai thì dừng lại tổ hợp trên một cái giá tam giác có cọc chống thành cụm 3 quả, khi đó nhóm của Tạo trinh sát tiểu đoàn đã cắt rào. Được lệnh tiếp cận hàng rào mình cùng Thực (Hàm Rồng – Hoằng Hóa) khênh giá ĐH10 vào vị trí, anh Sáu dù là Chính trị viên phó nhưng rất xông xáo trong việc đấu kíp điện và kiểm tra giá mìn, chính anh là người bấm điện cho ĐH10 nổ. Phương án đã nói ở trên, có 1 bộc phá sào dự phòng cho việc ĐH10 nếu không phá sạch hàng rào, nếu hàng rào được quét sạch sẽ dùng bộc phá sào thọc lỗ châu mai phá tường hộp.
ĐH10 nổ tất cả nghe lệnh xông lên bởi ko thấy bộc phá sào nổ (lý do Thực đút bộc phá sào vào rồi nhưng không giật nụ xòe), tất cả ào ào xông lên vì ĐH10 quét rất sạch, sát tường hộp là một hào rộng chừng 2,5m sâu chừng 70cm (có thể do đào lấy đất đắp tường hộp) nước lúp xúp và dây thép gai rải bùng nhùng nhưng vẫn lội qua được, anh em khá đông lúp xúp dưới chân tường hộp, mình và Tĩnh – Nga Thạch (Tĩnh mang trung liên RPD, mình AK) leo lên nóc lô cốt phiá bên phải.
Thời điểm oan nghiệt bắt đầu khi địch thẩy trái láng ra ngoài chân tường chỗ anh em đang tập trung và chưa leo lên được tường hộp, tiếng nổ và ánh sáng bùng lên, anh em la hét đau đớn. Đồn Long Giang bắt đầu bắn cối sáng sang chi viện cho Thốt Nốt, nằm trên nóc lô cốt dưới ánh cối sáng mình và Tĩnh quan sát được toàn bộ cái đồn và nhìn được đường ra phía ấp. Nói về cái đồn, tường hộp trên 3 cạnh tam giác hoàn toàn bằng bao cát đất, nóc mái bằng để đi lại và có lỗ để lính nhô lên. Chiều dài tường chừng 15m, chiều cao tường chừng hơn 2m ngoài tầm với chút (nếu muốn trèo lên phải kênh kiệu), chiều rộng chừng 2m. Ba góc là ba lô cốt đất hình bát úp cũng cao bằng tường, bên trong có một cái nhà bằng bao cát và một chòi canh bằng thép góc. Cái lô cốt mình và Tĩnh leo lên có độ thoải và đặt được chân để bám lên, trên nóc lô cốt nó xếp bao cát làm cái tăng sê rộng chừng 1m, cao 70cm đủ cho một người ngồi, nó làm 4 cọc và che nắng bằng lá dừa, ĐH10 thổi làm bay cọc nhưng lá dừa vẫn nằm gần đấy, mình và Tĩnh nấp vào chân tăng sê, mình nằm bên trái nó nằm bên phải, trong tăng sê có cái đèn 3 pin vẫn còn sáng (khi tiếp cận và trước lúc ĐH10 nổ vẫn thấy lính nó đi lại), từ lô cốt nhìn sang chỗ anh em hy sinh chân tường hộp là bên trái.
Nói lại về thời khắc đen tối, chỉ trái láng đầu tiên đã làm sát thương khủng khiếp cho anh em rồi cứ thế đều đều tiếng nổ và ánh lửa nháng nháng cho đến khi tiếng kêu im lặng dưới hào nước dưới chân tường hộp, hai mũi còn lại hầu như không động tĩnh. Mũi của Trường hình như cũng mở được rào nhưng không lên.
Trong một khoảng im lặng Tĩnh phát hiện một tên nhô lên khỏi nóc tường hộp bên phải, Tĩnh bảo: Hòa ơi bắn đi, mình hỏi: đâu? Tĩnh nói: đây này, mình bảo: Mày bắn đi, nó nói: súng tao nghiêng không bắn được. Trong khoảnh khắc mình nhìn thấy thằng địch cách chừng 2m nhô lên nóc tường hộp ngang ngực, mình điểm xạ 2 phát AK, nó tụt xuống, sau chừng 30 phút tất cả im ắng.
Cối sáng từ Long Giang vẫn thay nhau bắn sang, biết là hỏng rồi mình bảo Tĩnh: Tĩnh ơi ra thôi, nó bảo: Mày ra trước tao ra sau, cái thằng rất lì nó mang trung liên nhưng vẫn không cùng ra, tôi nói: tao ra đây. Lợi dụng lúc ánh sáng cối tắt mình phóng theo cừa mở và thoát ra ngoài, bên ngoài anh em vẫn chưa rút hết, vẫn còn người loanh quanh ngoài hàng rào. Mình gặp Hùng, Tới – Nga Thành và cả 3 cùng hướng rừng Nhum để về trong đêm tối, cả Tới và Hùng đều bị thương, mình không sao do nằm trên nóc lô cốt nên mảnh trái không tới, ba thằng cùng về. trên đường đi mình rơi tõm xuống cái giếng nước làm ruộng của dân, giếng sâu chừng gần 3m có nước ngang đùi, giếng tròn đường kính khoảng 1m, Hùng thò khẩu AK cho mình bám để leo lên, sau này nó có nói lại là khẩu AK nó chưa khóa chốt an toàn, thật may mắn, nếu không đi cùng nhau chắc sớm mai xong vì không thể tự lên được. Cả 3 bị lạc nên núp vào bụi cây để quan sát, khi loáng thoáng thấy có người đi về mang băng trắng vậy là lặng lẽ theo về đến trạm phẫu tiểu đoàn.
Lại nói về Tĩnh, khi mình rút nó chưa bị thương và chưa bắn phát đạn nào, lúc nó ra nó đã bị thương và nồi trung liên chỉ còn 3 viên, không biết nó nằm lại bao lâu, mình nhớ không nhầm thì chỉ có Tĩnh sau trận này trở về đơn vị, số còn lại loanh quanh K23 cho đến ngày 30/4/1975.
Sau này mình gặp lại Tĩnh một lần tại Thanh Hóa khi nó từ Nông trường 3 Cao su Phú Riềng ra giám định lại, trước khi về Long Khánh lần đầu mình đã nhờ Tiến chọi hỏi nó để rủ đi cùng thì được biết nó đã về miền cực lạc.
Mình nhớ, địch chỉ ném trái láng chứ không hề bắn ra một viên đạn nhọn, địch không hề chạy hết sau khi ĐH10 nổ và chỉ còn tên bị thương nằm ném trái như lời đồn đại, tuy nhiên số còn trong đồn có thể chỉ vài tên.
Mất mát trận này C1 mất rất nhiều lính kì cựu từ thời Vĩnh Phú, Nam Hà, Bắc Thái xưa và thông tin tiểu đoàn…Riêng ông Việt cà lăm mình không hề ấn tượng, mình không thấy hình ảnh của ông Đại đội trưởng này qua trận Suối Đá và trận này.
Mình chỉ viết những gì mình thấy, không có ý hơn thua, như đã nói: mình chứng kiến một phần sự kiện đau lòng này, ví như thầy bói xem voi sờ chỗ nào thì phán chỗ ấy, mình đã tự về Long Khánh 2 lần và còn muốn về thăm nữa.
Hy vọng sẽ được bổ sung thêm trong ngày gặp mặt 28/8/2017.
Viết dài, lan man chịu khó đọc nhé ! — với Tran van Lai.
Phụ lục:
Trở lại Long Khánh sau ngày 30/4 được người dân kể lại:
Địch đổ quân bằng cam nhông chặn đường rút của ta nhưng do sương mù nên không phát hiện được hướng rút, mặt khác ta cứ thẳng hướng về rừng Nhum địch lại dự đoán hướng khả nghi nên an toàn.
Địch cho xe bịt kín chở tử sỹ đi luôn sáng sớm người dân ko được đến gần nên không rõ, địch gom anh em hy sinh đặt trên đường xe bò sau 1 ngày thì người dân Cao Đài xin phép chôn anh em, giống như việc chôn cất ở Suối Đá 07/12/1974.
Có chuyện anh Sáu bị thương nặng nhưng chưa chết, sáng tỉnh dậy biết ko qua khỏi nên đã rút chốt da láng tự vẫn (?).
Cũng nghe dân kể: Sau khi DH10 nổ địch bỏ chạy khỏi đồn, chỉ có một người lính bị thương mang theo một đứa con trai vào đồn vì vợ chồng bỏ nhau, người lính đó hướng dẫn con thẩy trái láng ra lỗ châu mai tường hộp. Sát thương khủng khiếp, 12 anh hy sinh tại chỗ, 1 hy sinh tại phẫu, bị thương đáng kể.
Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019
Tản mạn về bựa.
Bựa, chẳng là gì cả, chỉ là một trào lưu phá cách, ra khỏi những ràng buộc đời thường. Bựa không có nghĩa là chửi tục văng mạng, không phải là lật ngược giá trị sống tiêu chuẩn, bựa chỉ là lối thoát cho những ẩn ức không giãi bày được từ phong cách cũ, là lối thoát ra khỏi những đời thường sáo mòn vốn dĩ không đủ không gian cho bản thân người đó vùng vẫy, khỏi những suy nghĩ bó cứng, khuôn phép cũ từ ngàn xưa.
Văn bựa, không có gì đặc biệt, chỉ dùng những lối hành văn khác với lối cũ sáo mòn, tự mỗi người sẽ xây dựng cho mình một lối viết, cách hành văn -khi đọc một bài viết, ta sẽ tự cảm thấy văn phong của từng người khác biệt cho dù bài viết đã không đề tên tác giả- trên hết, văn bựa phải trên nền tảng của người có khiếu văn chương, nếu không nó chẳng là văn bựa. Không một quy tắc nào làm chuẩn để viết văn bựa, người viết nhiều, với khiếu văn chương sẽ từ từ hình thành cung cách của mình.
Không ai tự xưng mình là bựa cả, chỉ bị gọi là bựa, khi những đoản văn họ viết theo phong cách khác hẳn lối mòn thông thường và thường khi làm độc giả rối trí vì không nắm bắt được ý đồ tác giả.
Văn bựa, không có gì đặc biệt, chỉ dùng những lối hành văn khác với lối cũ sáo mòn, tự mỗi người sẽ xây dựng cho mình một lối viết, cách hành văn -khi đọc một bài viết, ta sẽ tự cảm thấy văn phong của từng người khác biệt cho dù bài viết đã không đề tên tác giả- trên hết, văn bựa phải trên nền tảng của người có khiếu văn chương, nếu không nó chẳng là văn bựa. Không một quy tắc nào làm chuẩn để viết văn bựa, người viết nhiều, với khiếu văn chương sẽ từ từ hình thành cung cách của mình.
Không ai tự xưng mình là bựa cả, chỉ bị gọi là bựa, khi những đoản văn họ viết theo phong cách khác hẳn lối mòn thông thường và thường khi làm độc giả rối trí vì không nắm bắt được ý đồ tác giả.
Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019
"Hà nội trong mắt ai" 2
Em hãy phân tích và diễn giải đoạn văn sau (Thời gian 45 phút, thang điểm 5):
"Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." Trích.
Bài làm:
"Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." Trích.
Bài làm:
Đây là một đoạn văn được viết theo cung cách 'bựa', một trào lưu phá cách phát xuất từ nhóm "An Hoàng trung tướng" được nhiều người sử dụng từ thập niên trước.
"Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi" Đoạn nhập đề, tác giả nhắc đến nỗi thất vọng từ việc bị đối xử không thân thiện tại Ninh Bình-Bái đính, giờ đây là lúc được vài người bạn ở tại Hà nội đã quen trên Fb chiêu đãi uống bia hơi, tiếp đó là diễn tiến tại quán bia hơi "khung cảnh thật ồn ào không tả nổi" cho thấy đây là một quán rất đông khách, suy từ điều này cho thấy tụ điểm này có bia ngon. Trên bàn nhậu "mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể'' tác giả mô tả lại sự hưng phấn của mọi người trong bàn, cái ồn ào vốn dĩ của quán nhậu cộng hưởng với sự vui nhộn từ từng thành viên làm cho ai ai cũng như muốn tuôn hết những hưng phấn trong người ra, từng tràng ngôn ngữ tuôn ra không theo thứ tự, mọi người như đồng loạt cùng nói với hết âm lượng, điều này làm cho men bia như bay mất, uống bia nhiều mà không cảm thấy say.
Để chứng minh ý trên, "bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực" kết luận của tác giả chứng minh cho việc khi hưng phấn, nói nhiều với âm lượng hết cỡ sẽ giúp cho bớt say, "sự đón tiếp có hơi quá thân mật" điều làm cho tác giả ngạc nhiên là sự đón tiếp thân tình ngoài sức tưởng tượng, không ngờ đến tấm lòng của những người bạn chỉ quen qua Fb đã dành cho sự đón tiếp nồng hậu như thế.
Từ sự đón tiếp nồng hậu như trên, tác giả chợt liên tưởng "làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải" không phải những người miền Bắc mình gặp đều không thân thiện, rõ ràng ở đây đang có một nhóm người tiếp đãi mình nồng hậu đến như vầy cơ mà, điều này cho thấy "-ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa-" không phải mọi người Bắc mình gặp đều khó chịu, có những người rất thân thiện như bọn đang ngồi nhâu đây mà.
Câu kết, tác giả đã ngầm cám ơn, thừa nhận sự dễ chịu và nồng hậu của những người bạn đã đãi một trận bia thú vị "trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." mang đ́ến một buổi tối yên ả cho tác giả bên bờ hô Tây. Hết.
Bonus. Bựa từ điển.
Từ sự đón tiếp nồng hậu như trên, tác giả chợt liên tưởng "làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải" không phải những người miền Bắc mình gặp đều không thân thiện, rõ ràng ở đây đang có một nhóm người tiếp đãi mình nồng hậu đến như vầy cơ mà, điều này cho thấy "-ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa-" không phải mọi người Bắc mình gặp đều khó chịu, có những người rất thân thiện như bọn đang ngồi nhâu đây mà.
Câu kết, tác giả đã ngầm cám ơn, thừa nhận sự dễ chịu và nồng hậu của những người bạn đã đãi một trận bia thú vị "trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả." mang đ́ến một buổi tối yên ả cho tác giả bên bờ hô Tây. Hết.
Bonus. Bựa từ điển.
Bọn, bỏn: Từ chỉ số nhiều, một nhóm người.
Trận: Bữa, Lần.
Trận: Bữa, Lần.
Hét: Nói to
Hơi quá: Nhiều trên mức bình thường.
Đọc văn bựa cần chút 'bựa' và trí tưởng tượng.
Hơi quá: Nhiều trên mức bình thường.
Đọc văn bựa cần chút 'bựa' và trí tưởng tượng.
Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019
"Hà nội trong mắt ai"
Mình ra Hà nội đúng ngày nóng kinh khủng, sau chuyến bay từ Đà nẵng xuống Nội bài -sân bay quốc nội bé như cái móng tay, cú ngạc nhiên này kéo dài cho đến khi mình thấy những căn nhà trong khu phố cổ mới hết, những ngôi nhà bé đến độ không thể hẹp hơn- chuyến du lịch bắt đầu về hướng Ninh bình, khu Tràng an với cảnh sông núi đẹp không tả xiết, rời Bái đính với cảm giác hụt hẫng khủng khiếp về người miền Bắc, nói chuyện tục tĩu, coi du khách miền Nam như quân thù.
Bọn mình nói giọng miền Nam đối diện với thái độ thù địch rõ ràng từ ánh mắt nhìn cho đến từng câu đối thoại, sự kỳ dị của chuyện đi vệ sinh phải trả tiền (có hẳn một người ngồi đó thâu tiền -những bà thím trên 50 với lối nói liến thoắng như chim rất khó nghe- chuyện trả tiền để đi vệ sinh không đáng nói nhưng thái độ thù địch của đám người làm, thu tiền này thật đáng kinh sợ, những phụ nữ khá lớn tuổi có lẽ bị ký ức ác cảm với miền Nam từ cuộc chiến còn sót lại?) Trải nghiệm tồi tệ nhất là bà thím coi khu vệ sinh chùa Bái đính, ngôi chùa dùng để kinh doanh nhưng coi du khách như quân thù từ kiếp trước. Cũng may, nét đẹp kỳ vĩ của cảnh vật khu Tràng an đã xoá đi những những khó chịu trong chuyến đi.
Hôm về Hà nội, mình được chào đón với món bánh tôm chiên bờ hồ, một thất vọng không nhẹ sau những giới thiệu có cánh về nó, sau nhiều háo hức mong chờ, giờ đây ngồi trong quán bờ hồ với cái nóng không chịu nổi, nhấm chiếc bánh tôm chiên và tự nhủ mình hảy bớt tin vào những mô tả, những mộng mơ về một Hà nội trong thơ ca!
Sau chầu ăn uống, mình băng qua đường để tham gia chút nhộn nhịp phố phường, một Hà nội lộn xộn của bến xe người lên xuống và hàng rong, không tìm được chút lãng mạn nào mình thất vọng về khách sạn ngắm mặt hồ Tây từ khhung cửa khách sạn Hoàng hôn bên bờ hồ.
Buổi chiều với chuyến xe điện chạy vòng phố cổ, những căn nhà bé như tổ chim xen lẫn với nhiều con hẻm sâu hun hút (mình khi nhìn những căn nhà này tự thán phục những cô bạn xinh xinh trên Fb với những góc chụp Hà nội thật đẹp, không biết các cô nàng Hà nội này phải tốn bao nhiêu công sức tìm tòi để có những góc chụp đẹp không tưởng như vậy, hí hí) Phố đi bộ có hơn Sài gòn nhưng cũng không đáng để phí thời gian ra đó. Kem Tràng tiền, không như mình tưởng tượng qua những áng văn, nó nhếch nhác và bẩn đến không ngờ.
Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả.
Hà nội trong mắt mình, hiếm gái xinh, không biết bỏn trốn đâu hay chỉ có trên Fb? Điều đọng lại trong mình nhiều nhất là các loại biển hiệu và tiệm buôn bán, Hà nội có vẻ hướng ngoại -Âu Mỹ- hơn Sài gòn, mình không tưởng được có ai đó dám nói với dân Hà nội là chuẩn bị quay về thời XHCN ngày xưa, chuyện gì sẽ xảy ra?
Tóm lại, Hà nội trong mắt mình không có gì hấp dẫn, hí hí
Bọn mình nói giọng miền Nam đối diện với thái độ thù địch rõ ràng từ ánh mắt nhìn cho đến từng câu đối thoại, sự kỳ dị của chuyện đi vệ sinh phải trả tiền (có hẳn một người ngồi đó thâu tiền -những bà thím trên 50 với lối nói liến thoắng như chim rất khó nghe- chuyện trả tiền để đi vệ sinh không đáng nói nhưng thái độ thù địch của đám người làm, thu tiền này thật đáng kinh sợ, những phụ nữ khá lớn tuổi có lẽ bị ký ức ác cảm với miền Nam từ cuộc chiến còn sót lại?) Trải nghiệm tồi tệ nhất là bà thím coi khu vệ sinh chùa Bái đính, ngôi chùa dùng để kinh doanh nhưng coi du khách như quân thù từ kiếp trước. Cũng may, nét đẹp kỳ vĩ của cảnh vật khu Tràng an đã xoá đi những những khó chịu trong chuyến đi.
Hôm về Hà nội, mình được chào đón với món bánh tôm chiên bờ hồ, một thất vọng không nhẹ sau những giới thiệu có cánh về nó, sau nhiều háo hức mong chờ, giờ đây ngồi trong quán bờ hồ với cái nóng không chịu nổi, nhấm chiếc bánh tôm chiên và tự nhủ mình hảy bớt tin vào những mô tả, những mộng mơ về một Hà nội trong thơ ca!
Sau chầu ăn uống, mình băng qua đường để tham gia chút nhộn nhịp phố phường, một Hà nội lộn xộn của bến xe người lên xuống và hàng rong, không tìm được chút lãng mạn nào mình thất vọng về khách sạn ngắm mặt hồ Tây từ khhung cửa khách sạn Hoàng hôn bên bờ hồ.
Buổi chiều với chuyến xe điện chạy vòng phố cổ, những căn nhà bé như tổ chim xen lẫn với nhiều con hẻm sâu hun hút (mình khi nhìn những căn nhà này tự thán phục những cô bạn xinh xinh trên Fb với những góc chụp Hà nội thật đẹp, không biết các cô nàng Hà nội này phải tốn bao nhiêu công sức tìm tòi để có những góc chụp đẹp không tưởng như vậy, hí hí) Phố đi bộ có hơn Sài gòn nhưng cũng không đáng để phí thời gian ra đó. Kem Tràng tiền, không như mình tưởng tượng qua những áng văn, nó nhếch nhác và bẩn đến không ngờ.
Hình như để bù lại với nỗi thất vọng buổi trưa, tối đó vài người Hà nội quen sơ trên Fb chiêu đãi trận bia hơi, khung cảnh thật ồn ào không tả nổi, mọi người cùng hét vào tai nhau những câu vô nghĩa với toàn bộ âm lượng có thể, bia ngon uống không thấy say như để bù cho khí hậu quá nóng nực, sự đón tiếp có hơi quá thân mật, làm mình có cảm giác như bọn này đang thay mặt xin lỗi cho những bất cập của ngày qua mà mình gặp phải -ít ra cũng không phải mọi người Bắc đều khó ưa- trận uống bia ngon cho mình một đêm yên ả.
Hà nội trong mắt mình, hiếm gái xinh, không biết bỏn trốn đâu hay chỉ có trên Fb? Điều đọng lại trong mình nhiều nhất là các loại biển hiệu và tiệm buôn bán, Hà nội có vẻ hướng ngoại -Âu Mỹ- hơn Sài gòn, mình không tưởng được có ai đó dám nói với dân Hà nội là chuẩn bị quay về thời XHCN ngày xưa, chuyện gì sẽ xảy ra?
Tóm lại, Hà nội trong mắt mình không có gì hấp dẫn, hí hí
Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019
Venezuela đảo chánh?
Có thể xảy ra đảo chánh ở Venezuela không?
Bài viết 5/3/2019. Tác giả Ken Silverstein là người sáng lập WashingtonBabylon.com, và cũng viết cho nhiều ấn phẩm khác.
Chính quyền Trump rõ ràng muốn, nhưng nhân dân và quân đội Venezuela lẫn các nước láng giềng đều không mong muốn chuyện này.
Trong hai năm đầu cầm quyền Donald Trump không chọn thêm được quốc gia nào mà ông muốn xâm chiếm và lật đổ, Iran đã thoát trong đường tơ kẽ tóc, kế là Bắc Triều Tiên, rồi Syria hay Trung Quốc hoặc một số nước khác đã làm ông nổi giận.
Ngoài một cuộc tấn công tên lửa vào Syria vào năm 2017, Trump đến nay đã không có một hành động biểu lộ giận dữ trong chính sách đối ngoại, nhưng trong thời gian gần đây nỗi ám ảnh chiến tranh đã kích động ông chú tâm vào việc tìm cách lật đổ chính phủ Venezuela của Nicolás Maduro bằng cách thông qua áp lực kinh tế hay một cuộc đảo chính quân sự do Mỹ hỗ trợ hoặc khuyến khích một cuộc xâm lược tập thể được lãnh đạo bởi Brazil -do nhà dân chủ vĩ đại Jair Bolsonaro lãnh đạo- và Colombia nơi chế độ dân chủ được thiết lập từ nửa thế kỷ qua trên những mồ chôn tập thể.
Trong việc tìm kiếm giải pháp Trump được 'bộ ba khủng bố' hướng dẫn: Thượng nghị sĩ Florida Marco Rubio, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ John Bolton và đặc phái viên của chính quyền Trump về Venezuela, Elliott Abrams (thành tích nổi bật của Abrams gồm những lời khai man về vụ Iran-Contra, ủng hộ các chế độ sát nhân ở Guatemala và El Salvador và cổ vũ chiến tranh Iraq).Trong những tuần gần đây cả Rubio và tờ báo Miami Herald đều đưa ra dự đoán về sự sụp đổ sắp tới của Maduro.
Tôi không ưa gì Maduro nhưng hiện tại theo tôi những dự đoán đó là sai: Vị thế Tổng thống của Maduro được bảo vệ vững chắc và mọi âm mưu tìm cách thay thế ông ta chỉ là ngớ ngẩn.
Vào đầu năm 1989, chính phủ 'tân tự do' do Mỹ hỗ trợ của Carlos Andrés Pérez -còn gọi là tên dối trá- đã ra lệnh cho quân đội bắn những người biểu tình xuống đường chống lại kế hoạch thắt lưng buộc bụng cuả Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn người đã bị tàn sát, số liệu thật sự không thể có được vì nhiều người đã bị thủ tiêu trong các mồ chôn bí mật.
Tháng 2/1992 Hugo Chávez lãnh đạo một âm mưu đảo chính chống lại chính quyền, cuộc đảo chính thất bại nhưng Chavez trở thành một anh hùng nổi tiếng, đặc biệt là sau khi ông đọc diễn văn trên đài truyền hình quốc gia nhìn nhận trách nhiệm về hành động của mình, một điều hiếm thấy trong chính trị Venezuela, Chavez với thỉnh cầu nổi tiếng đến các quân nhân, những người ủng hộ cuộc đảo chính quay trở lại doanh trại do "sự hổ thẹn" và "thời cơ" mà họ nhắm đến đã thất bại.
Chavez bị tù, nhưng hai năm sau được trả tự do và nổi tiếng, năm 1999 ông được bầu làm Tổng Thống và tái đắc cử ba lần.
Vào tháng 4 năm 2002, một Hội đồng quân nhân đảo chính lật đổ Tổng thống Chávez và đưa Pedro Carmona, giám đốc Phòng Thương mại của Venezuela thay thế, do Chavez rất đựơc hâm mộ vào thời điểm đó nên các cuộc biểu tình chống đối bùng nổ trên khắp đường phố ở Venezuela và chỉ trong vài ngày chính quyền Carmona sụp đổ và Chávez trở lại cầm quyền (chính quyền George Bush mất mặt vì cú này do thứ trưởng ngoại giao Mỹ Otto Reich đã đi gặp gỡ các giới lãnh đạo đảo chính và tán thành việc truất phế Chávez).
Chiến lược của Trump ở Venezuela rất đơn giản và tương tự như những gì Mỹ đã làm ở Iraq vào cuối 1990 và đầu những năm 2000 trước khi quyết định đổ bộ: Làm kiệt quệ đất nước bằng các biện pháp cấm vận kinh tế tàn bạo và sau đó hoặc là đổ lỗi cho chính phủ về tình trạng khốn khó hay tự biện minh hành động can dự là tất yếu để phát huy tự do. Như trường hợp phóng viên Lesley Stahl của đài CBS hồi năm 1996 khi phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao thời Bill Clinton, Madeleine Albright: "Chúng tôi đã nghe nói rằng một nửa triệu trẻ em Iraq đã chết, theo tôi nghĩ con số này còn nhiều hơn số trẻ chết ở Hiroshima và theo bà cái giá (cấm vận) có đáng không?" Albright trả lời "Tôi nghĩ đây là một lựa chọn rất khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cái giá đó là xứng đáng"
Nếu các biện pháp cấm vận không làm chế độ thay đổi, bước thứ nhì là ép buộc hoặc mua chuộc quân đội lật đổ chế độ, điều này từng thất bại ở Iraq và nay cũng thất bại ở Venezuela. Báo New York Time từng loan tin mùa thu năm ngoái chính quyền Trump 'đã có các cuộc họp mật với những quân nhân nổi loạn Venezuela để thảo luận về những kế hoạch lật đổ Tổng thống Maduro'.
Đồng thời chính quyền Mỹ công khai kêu gọi dân chúng lật đổ Maduro, tháng 11 năm ngoái Bolton đã phát biểu tại Freedom Tower -tòa nhà nơi người Cuba chống Castro được chào đón vào năm 1960 sau khi Castro lật đổ nhà độc tài Fulgencio Batista- rằng: "Bộ ba chuyên chế ở bán cầu này -Cuba, Venezuela và Nicaragua- cuối cùng cũng giống nhau một điểm, họ là những tên hề rẻ tiền và yêu cầu họ hãy tự rút lui hay Mỹ sẽ loại bỏ họ ra khỏi quyền lực".
Venezuela hiện nay đang ở giai đoạn giống như hồi chính quyền Bush xâm lược Iraq, vài tuần trước chính quyền Trump tuyên bố triệu hồi tất cả các nhà ngoại giao của Mỹ từ Caracas và chính phủ Maduro trả đũa đã đóng cửa Toà đại sứ tại Washington và đưa nhân sự về nước. Trump đã công nhận chủ tịch Quốc hội là tổng thống mới của Venezuela, ông Juan Guaidó, người từng là một gã bán lẻ hàng điện tử và giờ đây đang vung kiếm xủng xoẻng và hứa hẹn ngày tận số cuả Maduro.
Mặc dù Maduro không được mọi người hâm mộ lắm nhưng Guaidó và phe đối lập do Hoa Kỳ chi phối lại bị chửi rủa và phản đối rộng rãi. Rất ít người Venezuela muốn quay trở lại thời 1992, khi quân đội tàn sát người chống đối hoặc 1998 -một năm trước khi Chavez được bầu-. Thời những người cầm quyền giầu có xuất thân từ nhóm thành viên của trật tự cũ, mà một trong những thí dụ nhãn tiền về sự đối lập chính là khu George Washington Plaza, một khu phố giàu có nằm chen giữa các khu nghèo nàn El Paraiso và La Vega.
Và trong khi các chính trị gia Mỹ ủng hộ sự can thiệp thường dùng các báo cáo từ truyền thông Mỹ chỉ trích về tình trạng khan hiếm thực phẩm và thậm chí là chết đói tại Venezuela thì những gì tôi thấy khi lang thang trong thành phố lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Tôi đã gặp Viviana tại một cuộc họp công đoàn ở El Paraiso và chúng tôi cùng đi bộ khoảng hai cây số về nhà cô ấy, tháp tùng còn có cả William người bạn khác gặp mặt tại cuộc họp của công đoàn, trong lúc đi bộ tôi thấy rất nhiều thực phẩm. Giá cả có thể hơi đắt, nhưng người nghèo vẫn có thể mua nó -cà phê, đường, thịt gà, bánh mì, trái cây cùng nhiều thứ khác- ở những người bán rong và chợ lề đường.
Một vài thứ thật sự rất đắt: Trong khi chúng tôi đi bộ đến nhà Viviana, tôi cố tìm một người nào đó trên phố hút thuốc để có thể mồi nhờ điếu thuốc, thật ngạc nhiên là suốt 20 phút tôi không tìm thấy được người nào hút thuốc, Viviana giải thích "giá thuốc lá quá mắc nên hầu như chẳng ai có khả năng hút thuốc nữa".
Tuy nhiên, Viviana và William sau đó đãi tôi một bữa ăn ngon với dồi huyết, Pasta Bolognese và cơm gan gà, tất cả là các món mà Viviana có trong nhà tại khu phố nghèo La Vega.Tại lối vào khu phố nhiều người xếp hàng chờ xe buýt và xe ôm, tuy ở đây nhiều người nghèo hơn những khu khác mà tôi đã đến, khu La Vega này lại ủng hộ chủ nghĩa Chavista mạnh mẽ, điển hình từ những bức tranh tường vẽ cựu tổng thống Chavez, Simón Bolívar, El Libertador, Che Guevara và các nhà lãnh đạo cách mạng Mỹ Latinh khác.
Tôi đã đến thăm một số khu phố khác và không có thời gian dùng bữa, ở San Augustín -trung tâm Venezuela- tôi gặp một người phụ nữ có ngôi nhà ở trên sườn núi, từ cửa sổ nhà, cô chỉ cho tôi nhìn qua một khu nhà chung cư cao cấp với phần lớn các phòng trống, cô ấy cho tôi biết các chủ sở hữu đã chạy sang Miami, Orlando, Madrid, Lisbon và các nước ngoài khác.
Tôi cũng đã gặp và kết bạn với Iris, Navidad và Pedro, chúng tôi uống bia và hút thuốc lá, họ đồng ý cho tôi chụp ảnh, chúng tôi đã không nói chuyện nhiều về chính trị nhưng tôi thấy rõ họ không thích Guaidó hay phe đối lập, họ hiển nhiên cũng không có vẻ đói, trông rất khỏe mạnh và vui vẻ.
Thêm lý do nữa tôi tin rằng một cuộc đảo chính sẽ không thực hiện được là vì Mỹ đã không thể lập ra một liên minh bịp để thực hiện một cuộc xâm lược -như đã xảy ra ở Iraq năm 2003- cả hai chính phủ Brazil và Colombia đều công khai tuyên bố rằng họ sẽ không tham gia trong bất cứ cuộc xâm lược vũ trang vào Venezuela.
Sự thúc đẩy của chính quyền Trump đối với quân đội Venezuela đã không có kết quả, cho đến nay lực lượng chung quanh tổng thống Maduro dường như đã vững chắc. Câu hỏi là tại sao các tướng lãnh lại phải ngả sang phía Mỹ? Đó là một rủi ro rất lớn, sẽ bị bắt nếu cuộc đảo chính thất bại, những hứa hẹn về một ngôi nhà ở Miami hoặc một tài khoản ở ngân hàng Delaware cũng không có ích gì nếu bị đi tù.
Maduro theo dõi sát sao quân đội hay nói cụ thể hơn là Diosdado Cabello luôn kiểm soát quân đội và mọi lãnh vực khác ở Venezuela. Cabello là người quyền lực nhất ở Venezuela và là thế lực đứng sau ngai vàng Maduro. Cabello là một cựu sỹ quan quân đội, ít nhất ông và Chavez đã là bạn thân thiết kể từ sau cuộc đảo chính thất bại năm 1992. Tôi có nhiều nguồn tin cho biết rằng lý do Chavez đã chọn ông Maduro 'hãm tài' làm phó tổng thống thay vì Cabello, chỉ vì ông Chavez đã quá cẩn thận đề phòng ông Cabello là một người quá xuất sắc cho chức vụ với quyền lực thứ nhì.
Chính quyền Trump có thể tiếp tục lôi kéo hoặc đe dọa các sỹ quan Venezuela để hạ bệ Maduro, nhưng đừng mơ! Những kẻ phản bội -ở bất kỳ quốc gia nào chống lại chính phủ của mình để được hưởng tiền bạc, hoặc những hứa hẹn thăng tiến sự nghiệp từ một lực lượng ngoại quốc- chắc chắn sẽ bị bắt và xử phạt nghiêm khắc.
Như vậy Mỹ chỉ còn lại giải pháp xâm lược là một chọn lựa duy nhất để lật đổ Maduro. Bolton, Abrams, Rubio và các chính trị gia cánh hữu khác -những người giống như Rubio nhận tài trợ của các nhóm lợi ích- đều kêu gào chiến tranh, nhưng họ sẽ không chết vì chiến đấu trên đường phố ở Caracas. Nhiều nguồn tin tốt đã cho tôi biết rằng phần lớn các quan chức cấp cao của Ngũ giác đài và cục tình báo chống ý định xâm lược của Hoa Kỳ vì xét ra điều đó là điên rồ.
Điều kỳ thú là các công ty dầu mỏ của Mỹ hoạt động ở Venezuela như ExxonMobil và Chevron đã không hề công khai ý kiến gì về âm mưu của Trump nhằm lật đổ Maduro, họ hy vọng Trump -là Tổng thống nên phải- biết chiến tranh rất tệ cho kinh doanh. Tuy nhiên các công ty dầu mỏ có tài sản ở Venezuela, cuối cùng có thể sẽ quyết định tìm ngõ thoát, họ sẽ được nhiều lợi ích hơn nếu Maduro ra đi.
Như lịch sử đã cho thấy cần có một thế lực bên ngoài -ở đây là Mỹ- để kích động một cuộc chiến tranh, đây cũng là mục đích rõ ràng của Rubio, nhưng Rubio ngày càng tuyệt vọng và thất bại trong ý đồ kích hoạt một cuộc xung đột, thậm chí Rubio trong một tweet còn kèm cả hình ảnh đẫm máu của Muamar Gaddafi -cựu lãnh đạo Lybya- khi lên tiếng đòi hỏi Maduro từ chức.
Maduro có thể tham nhũng, độc đoán, khoa trương và tâm thần không ổn định -những cá tính này có phần giống Trump, người đang tìm cách truất phế ông- Maduro có thể cũng đã tìm cách tăng số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử hồi 2018. Nhưng tạm thời, ông ta vẫn là Tổng Thống tại chức, Trump và các cố vấn theo khuynh hướng can thiệp dường như không thể thay đổi điều này, nhưng tốt nhất họ không nên thử.
https://newrepublic.com/article/153219/coup-unlikely-venezuela
Chính quyền Trump rõ ràng muốn, nhưng nhân dân và quân đội Venezuela lẫn các nước láng giềng đều không mong muốn chuyện này.
Trong hai năm đầu cầm quyền Donald Trump không chọn thêm được quốc gia nào mà ông muốn xâm chiếm và lật đổ, Iran đã thoát trong đường tơ kẽ tóc, kế là Bắc Triều Tiên, rồi Syria hay Trung Quốc hoặc một số nước khác đã làm ông nổi giận.
Ngoài một cuộc tấn công tên lửa vào Syria vào năm 2017, Trump đến nay đã không có một hành động biểu lộ giận dữ trong chính sách đối ngoại, nhưng trong thời gian gần đây nỗi ám ảnh chiến tranh đã kích động ông chú tâm vào việc tìm cách lật đổ chính phủ Venezuela của Nicolás Maduro bằng cách thông qua áp lực kinh tế hay một cuộc đảo chính quân sự do Mỹ hỗ trợ hoặc khuyến khích một cuộc xâm lược tập thể được lãnh đạo bởi Brazil -do nhà dân chủ vĩ đại Jair Bolsonaro lãnh đạo- và Colombia nơi chế độ dân chủ được thiết lập từ nửa thế kỷ qua trên những mồ chôn tập thể.
Trong việc tìm kiếm giải pháp Trump được 'bộ ba khủng bố' hướng dẫn: Thượng nghị sĩ Florida Marco Rubio, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ John Bolton và đặc phái viên của chính quyền Trump về Venezuela, Elliott Abrams (thành tích nổi bật của Abrams gồm những lời khai man về vụ Iran-Contra, ủng hộ các chế độ sát nhân ở Guatemala và El Salvador và cổ vũ chiến tranh Iraq).Trong những tuần gần đây cả Rubio và tờ báo Miami Herald đều đưa ra dự đoán về sự sụp đổ sắp tới của Maduro.
Tôi không ưa gì Maduro nhưng hiện tại theo tôi những dự đoán đó là sai: Vị thế Tổng thống của Maduro được bảo vệ vững chắc và mọi âm mưu tìm cách thay thế ông ta chỉ là ngớ ngẩn.
Vào đầu năm 1989, chính phủ 'tân tự do' do Mỹ hỗ trợ của Carlos Andrés Pérez -còn gọi là tên dối trá- đã ra lệnh cho quân đội bắn những người biểu tình xuống đường chống lại kế hoạch thắt lưng buộc bụng cuả Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn người đã bị tàn sát, số liệu thật sự không thể có được vì nhiều người đã bị thủ tiêu trong các mồ chôn bí mật.
Tháng 2/1992 Hugo Chávez lãnh đạo một âm mưu đảo chính chống lại chính quyền, cuộc đảo chính thất bại nhưng Chavez trở thành một anh hùng nổi tiếng, đặc biệt là sau khi ông đọc diễn văn trên đài truyền hình quốc gia nhìn nhận trách nhiệm về hành động của mình, một điều hiếm thấy trong chính trị Venezuela, Chavez với thỉnh cầu nổi tiếng đến các quân nhân, những người ủng hộ cuộc đảo chính quay trở lại doanh trại do "sự hổ thẹn" và "thời cơ" mà họ nhắm đến đã thất bại.
Chavez bị tù, nhưng hai năm sau được trả tự do và nổi tiếng, năm 1999 ông được bầu làm Tổng Thống và tái đắc cử ba lần.
Vào tháng 4 năm 2002, một Hội đồng quân nhân đảo chính lật đổ Tổng thống Chávez và đưa Pedro Carmona, giám đốc Phòng Thương mại của Venezuela thay thế, do Chavez rất đựơc hâm mộ vào thời điểm đó nên các cuộc biểu tình chống đối bùng nổ trên khắp đường phố ở Venezuela và chỉ trong vài ngày chính quyền Carmona sụp đổ và Chávez trở lại cầm quyền (chính quyền George Bush mất mặt vì cú này do thứ trưởng ngoại giao Mỹ Otto Reich đã đi gặp gỡ các giới lãnh đạo đảo chính và tán thành việc truất phế Chávez).
Chiến lược của Trump ở Venezuela rất đơn giản và tương tự như những gì Mỹ đã làm ở Iraq vào cuối 1990 và đầu những năm 2000 trước khi quyết định đổ bộ: Làm kiệt quệ đất nước bằng các biện pháp cấm vận kinh tế tàn bạo và sau đó hoặc là đổ lỗi cho chính phủ về tình trạng khốn khó hay tự biện minh hành động can dự là tất yếu để phát huy tự do. Như trường hợp phóng viên Lesley Stahl của đài CBS hồi năm 1996 khi phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao thời Bill Clinton, Madeleine Albright: "Chúng tôi đã nghe nói rằng một nửa triệu trẻ em Iraq đã chết, theo tôi nghĩ con số này còn nhiều hơn số trẻ chết ở Hiroshima và theo bà cái giá (cấm vận) có đáng không?" Albright trả lời "Tôi nghĩ đây là một lựa chọn rất khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cái giá đó là xứng đáng"
Nếu các biện pháp cấm vận không làm chế độ thay đổi, bước thứ nhì là ép buộc hoặc mua chuộc quân đội lật đổ chế độ, điều này từng thất bại ở Iraq và nay cũng thất bại ở Venezuela. Báo New York Time từng loan tin mùa thu năm ngoái chính quyền Trump 'đã có các cuộc họp mật với những quân nhân nổi loạn Venezuela để thảo luận về những kế hoạch lật đổ Tổng thống Maduro'.
Đồng thời chính quyền Mỹ công khai kêu gọi dân chúng lật đổ Maduro, tháng 11 năm ngoái Bolton đã phát biểu tại Freedom Tower -tòa nhà nơi người Cuba chống Castro được chào đón vào năm 1960 sau khi Castro lật đổ nhà độc tài Fulgencio Batista- rằng: "Bộ ba chuyên chế ở bán cầu này -Cuba, Venezuela và Nicaragua- cuối cùng cũng giống nhau một điểm, họ là những tên hề rẻ tiền và yêu cầu họ hãy tự rút lui hay Mỹ sẽ loại bỏ họ ra khỏi quyền lực".
Venezuela hiện nay đang ở giai đoạn giống như hồi chính quyền Bush xâm lược Iraq, vài tuần trước chính quyền Trump tuyên bố triệu hồi tất cả các nhà ngoại giao của Mỹ từ Caracas và chính phủ Maduro trả đũa đã đóng cửa Toà đại sứ tại Washington và đưa nhân sự về nước. Trump đã công nhận chủ tịch Quốc hội là tổng thống mới của Venezuela, ông Juan Guaidó, người từng là một gã bán lẻ hàng điện tử và giờ đây đang vung kiếm xủng xoẻng và hứa hẹn ngày tận số cuả Maduro.
Không ai biết chính xác những gì sẽ xảy ra, Mỹ sẽ xâm lăng? Nghe có vẻ điên rồ nhưng phải nhớ chúng ta đang đấu trí với Trump, hay sẽ có một cuộc đảo chính quân sự do Hoa Kỳ giựt dây? Hay CIA lại một lần nữa tìm cách giết Maduro như đã từng làm với Saddam Hussein, Fidel Castro và một loạt kẻ thù khác?
Tiên đoán luôn bất định, nhưng ở đây tại sao tôi lại đặt cược vào Maduro.
Hiển nhiên ai cũng hiểu rằng ngoài các biện pháp trừng phạt kinh tế tàn bạo của Hoa Kỳ cộng thêm các chính sách tham nhũng và đàn áp của chính Maduro đã tạo ra rất nhiều khổ cực và bất mãn, dân chúng mệt mỏi và tin rằng Mỹ sẽ tiếp tục bỏ đói đất nước họ cho đến khi Maduro biến mất.
Tuần trước trong chuyến đi đến Caracas tham dự một hội nghị của International Peoples’ Assembly (Hội đồng nhân dân quốc tế, tổ chức Mỹ Latinh chống can thiệp) tôi né tránh các sự kiện chính thức để đi tham quan các khu phố nghèo, tôi gặp một người phụ nữ trẻ làm việc trong ngành khách sạn nói chuyện với tôi, cô phát biểu: "Tôi đã chán ngấy, tôi muốn có một cuộc đảo chính", cô ấy là người duy nhất tôi gặp mà công khai ủng hộ một cuộc đảo chính, và thoải mái nói như vậy mà không hề sợ bị bắt bớ. (Riêng tôi đã tản bộ quanh thủ đô Caracas ngày lẫn đêm, công khai tuyên bố chính kiến của mình, không ai -chính phủ hay phe đối lập- quấy rối tôi hoặc khó chịu vì ý kiến của tôi).
Tiên đoán luôn bất định, nhưng ở đây tại sao tôi lại đặt cược vào Maduro.
Hiển nhiên ai cũng hiểu rằng ngoài các biện pháp trừng phạt kinh tế tàn bạo của Hoa Kỳ cộng thêm các chính sách tham nhũng và đàn áp của chính Maduro đã tạo ra rất nhiều khổ cực và bất mãn, dân chúng mệt mỏi và tin rằng Mỹ sẽ tiếp tục bỏ đói đất nước họ cho đến khi Maduro biến mất.
Tuần trước trong chuyến đi đến Caracas tham dự một hội nghị của International Peoples’ Assembly (Hội đồng nhân dân quốc tế, tổ chức Mỹ Latinh chống can thiệp) tôi né tránh các sự kiện chính thức để đi tham quan các khu phố nghèo, tôi gặp một người phụ nữ trẻ làm việc trong ngành khách sạn nói chuyện với tôi, cô phát biểu: "Tôi đã chán ngấy, tôi muốn có một cuộc đảo chính", cô ấy là người duy nhất tôi gặp mà công khai ủng hộ một cuộc đảo chính, và thoải mái nói như vậy mà không hề sợ bị bắt bớ. (Riêng tôi đã tản bộ quanh thủ đô Caracas ngày lẫn đêm, công khai tuyên bố chính kiến của mình, không ai -chính phủ hay phe đối lập- quấy rối tôi hoặc khó chịu vì ý kiến của tôi).
Mặc dù Maduro không được mọi người hâm mộ lắm nhưng Guaidó và phe đối lập do Hoa Kỳ chi phối lại bị chửi rủa và phản đối rộng rãi. Rất ít người Venezuela muốn quay trở lại thời 1992, khi quân đội tàn sát người chống đối hoặc 1998 -một năm trước khi Chavez được bầu-. Thời những người cầm quyền giầu có xuất thân từ nhóm thành viên của trật tự cũ, mà một trong những thí dụ nhãn tiền về sự đối lập chính là khu George Washington Plaza, một khu phố giàu có nằm chen giữa các khu nghèo nàn El Paraiso và La Vega.
Và trong khi các chính trị gia Mỹ ủng hộ sự can thiệp thường dùng các báo cáo từ truyền thông Mỹ chỉ trích về tình trạng khan hiếm thực phẩm và thậm chí là chết đói tại Venezuela thì những gì tôi thấy khi lang thang trong thành phố lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Tôi đã gặp Viviana tại một cuộc họp công đoàn ở El Paraiso và chúng tôi cùng đi bộ khoảng hai cây số về nhà cô ấy, tháp tùng còn có cả William người bạn khác gặp mặt tại cuộc họp của công đoàn, trong lúc đi bộ tôi thấy rất nhiều thực phẩm. Giá cả có thể hơi đắt, nhưng người nghèo vẫn có thể mua nó -cà phê, đường, thịt gà, bánh mì, trái cây cùng nhiều thứ khác- ở những người bán rong và chợ lề đường.
Một vài thứ thật sự rất đắt: Trong khi chúng tôi đi bộ đến nhà Viviana, tôi cố tìm một người nào đó trên phố hút thuốc để có thể mồi nhờ điếu thuốc, thật ngạc nhiên là suốt 20 phút tôi không tìm thấy được người nào hút thuốc, Viviana giải thích "giá thuốc lá quá mắc nên hầu như chẳng ai có khả năng hút thuốc nữa".
Tuy nhiên, Viviana và William sau đó đãi tôi một bữa ăn ngon với dồi huyết, Pasta Bolognese và cơm gan gà, tất cả là các món mà Viviana có trong nhà tại khu phố nghèo La Vega.Tại lối vào khu phố nhiều người xếp hàng chờ xe buýt và xe ôm, tuy ở đây nhiều người nghèo hơn những khu khác mà tôi đã đến, khu La Vega này lại ủng hộ chủ nghĩa Chavista mạnh mẽ, điển hình từ những bức tranh tường vẽ cựu tổng thống Chavez, Simón Bolívar, El Libertador, Che Guevara và các nhà lãnh đạo cách mạng Mỹ Latinh khác.
Tôi đã đến thăm một số khu phố khác và không có thời gian dùng bữa, ở San Augustín -trung tâm Venezuela- tôi gặp một người phụ nữ có ngôi nhà ở trên sườn núi, từ cửa sổ nhà, cô chỉ cho tôi nhìn qua một khu nhà chung cư cao cấp với phần lớn các phòng trống, cô ấy cho tôi biết các chủ sở hữu đã chạy sang Miami, Orlando, Madrid, Lisbon và các nước ngoài khác.
Tôi cũng đã gặp và kết bạn với Iris, Navidad và Pedro, chúng tôi uống bia và hút thuốc lá, họ đồng ý cho tôi chụp ảnh, chúng tôi đã không nói chuyện nhiều về chính trị nhưng tôi thấy rõ họ không thích Guaidó hay phe đối lập, họ hiển nhiên cũng không có vẻ đói, trông rất khỏe mạnh và vui vẻ.
Thêm lý do nữa tôi tin rằng một cuộc đảo chính sẽ không thực hiện được là vì Mỹ đã không thể lập ra một liên minh bịp để thực hiện một cuộc xâm lược -như đã xảy ra ở Iraq năm 2003- cả hai chính phủ Brazil và Colombia đều công khai tuyên bố rằng họ sẽ không tham gia trong bất cứ cuộc xâm lược vũ trang vào Venezuela.
Sự thúc đẩy của chính quyền Trump đối với quân đội Venezuela đã không có kết quả, cho đến nay lực lượng chung quanh tổng thống Maduro dường như đã vững chắc. Câu hỏi là tại sao các tướng lãnh lại phải ngả sang phía Mỹ? Đó là một rủi ro rất lớn, sẽ bị bắt nếu cuộc đảo chính thất bại, những hứa hẹn về một ngôi nhà ở Miami hoặc một tài khoản ở ngân hàng Delaware cũng không có ích gì nếu bị đi tù.
Maduro theo dõi sát sao quân đội hay nói cụ thể hơn là Diosdado Cabello luôn kiểm soát quân đội và mọi lãnh vực khác ở Venezuela. Cabello là người quyền lực nhất ở Venezuela và là thế lực đứng sau ngai vàng Maduro. Cabello là một cựu sỹ quan quân đội, ít nhất ông và Chavez đã là bạn thân thiết kể từ sau cuộc đảo chính thất bại năm 1992. Tôi có nhiều nguồn tin cho biết rằng lý do Chavez đã chọn ông Maduro 'hãm tài' làm phó tổng thống thay vì Cabello, chỉ vì ông Chavez đã quá cẩn thận đề phòng ông Cabello là một người quá xuất sắc cho chức vụ với quyền lực thứ nhì.
Chính quyền Trump có thể tiếp tục lôi kéo hoặc đe dọa các sỹ quan Venezuela để hạ bệ Maduro, nhưng đừng mơ! Những kẻ phản bội -ở bất kỳ quốc gia nào chống lại chính phủ của mình để được hưởng tiền bạc, hoặc những hứa hẹn thăng tiến sự nghiệp từ một lực lượng ngoại quốc- chắc chắn sẽ bị bắt và xử phạt nghiêm khắc.
Như vậy Mỹ chỉ còn lại giải pháp xâm lược là một chọn lựa duy nhất để lật đổ Maduro. Bolton, Abrams, Rubio và các chính trị gia cánh hữu khác -những người giống như Rubio nhận tài trợ của các nhóm lợi ích- đều kêu gào chiến tranh, nhưng họ sẽ không chết vì chiến đấu trên đường phố ở Caracas. Nhiều nguồn tin tốt đã cho tôi biết rằng phần lớn các quan chức cấp cao của Ngũ giác đài và cục tình báo chống ý định xâm lược của Hoa Kỳ vì xét ra điều đó là điên rồ.
Điều kỳ thú là các công ty dầu mỏ của Mỹ hoạt động ở Venezuela như ExxonMobil và Chevron đã không hề công khai ý kiến gì về âm mưu của Trump nhằm lật đổ Maduro, họ hy vọng Trump -là Tổng thống nên phải- biết chiến tranh rất tệ cho kinh doanh. Tuy nhiên các công ty dầu mỏ có tài sản ở Venezuela, cuối cùng có thể sẽ quyết định tìm ngõ thoát, họ sẽ được nhiều lợi ích hơn nếu Maduro ra đi.
Như lịch sử đã cho thấy cần có một thế lực bên ngoài -ở đây là Mỹ- để kích động một cuộc chiến tranh, đây cũng là mục đích rõ ràng của Rubio, nhưng Rubio ngày càng tuyệt vọng và thất bại trong ý đồ kích hoạt một cuộc xung đột, thậm chí Rubio trong một tweet còn kèm cả hình ảnh đẫm máu của Muamar Gaddafi -cựu lãnh đạo Lybya- khi lên tiếng đòi hỏi Maduro từ chức.
Maduro có thể tham nhũng, độc đoán, khoa trương và tâm thần không ổn định -những cá tính này có phần giống Trump, người đang tìm cách truất phế ông- Maduro có thể cũng đã tìm cách tăng số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử hồi 2018. Nhưng tạm thời, ông ta vẫn là Tổng Thống tại chức, Trump và các cố vấn theo khuynh hướng can thiệp dường như không thể thay đổi điều này, nhưng tốt nhất họ không nên thử.
https://newrepublic.com/article/153219/coup-unlikely-venezuela
Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019
Chất độc da cam 2
Câu hỏi đầu tiên cần xem xét là vì sao các nguyên đơn Việt Nam đã thua vụ kiện chất Da Cam trước Tòa án Mỹ?
Ta chỉ việc phân tích bản án 233 trang (vụ số 04-CV-400) ngày 10 tháng 3, 2005 của Chánh án Weinstein của Tòa án Liên Bang ở New York thì thấy lý do các nguyên đơn Việt Nam thất kiện: Các luật sư Mỹ của họ đã làm hại các nguyên đơn, vì đã làm trật lất trong việc viện dẫn các căn bản pháp lý của việc kiện và trong việc đưa ra bằng chứng quá sơ sài, mặc dù Chánh Án đã cho nguyên đơn 6 tháng từ ngày 9 tháng 2,2004 để đệ nạp bằng chứng.
A. Luật sư nguyên đơn đã dựa vào nhiều căn bản pháp lý không có cơ hội thành công, vì trái luật quốc nội và luật quốc tế, và không có sức thuyết phục.
1) Trái luật quốc nội Mỹ, vì các bản án tiền lệ về các vụ kiện của cựu chiến binh Mỹ, trước vụ Việt Nam, kiện các hãng sản xuất chất da cam, như Dow Chemical , Monsanto v.v. đã thua khi đưa ra luận cứ là theo luật quốc nội, các hãng này phải chịu trách nhiệm về các sự tác hại của các chất hoá học rải trên chiến trường, mà họ sản xuất, theo luật product liability (trách nhiệm về sản phẩm gây tai hại), vì Tòa án Liên bang trong các vụ tiền lệ đó đã nói là theo nguyên tắc vô trách nhiệm của nhà thầu chính phủ (‘chính phủ biểu chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm thế, giao hàng hóa như thế ‘) cho nên họ được miễn trách. Luật sư Mỹ trong vụ Việt Nam lại dùng lại lý luận trên của các cựu chiến binh Mỹ đã thua trên căn bản này.
2) Trái luật quốc tế, hay đúng hơn là trái một phần luật quốc tế.
Trước hết, phải nói là Chánh Án Weinstein của Tòa Án Liên Bang NY đã mở ra một chân trời hy vọng cho các nguyên đơn Việt Nam bằng cách nói rõ là Tòa Án Liên Bang Mỹ làm việc trong vụ kiện quốc tế này như một Tòa Án quốc tế (International Court) để xét xử về nhân quyền của các nạn nhân; và do đó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luật quốc nội Mỹ về sự vô trách nhiệm của nhà thầu, mà có thể xét trách nhiệm trực tiếp của các nhà sản xuất các hóa chất, kể cả chất Da Cam, chiếu theo luật Alien Tort Act của Mỹ đã có từ những năm đầu lập quốc Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, công nhận cho người ngọai quốc được kiện các bị đơn ở Mỹ đã vi phạm nhân quyền ở ngọai quốc.
Trở lại vấn đề các nhà sản xuất hóa chất khai quang bị coi là vi phạm nhân quyền khi sản xuất các chất khai quang đem rải ở Việt nam, làm hại cho dân Việt Nam - Nếu có đủ bằng chứng là có liên hệ nhân quả giữa sản phẩm thuốc khai quang rải hay phun và các bệnh tật của người dân trong các khu vực rải thuốc đó (sẽ bàn ở phần sau về điều kiện dẫn chứng liên hệ nhân quả phải có này, thì mới thắng kiện, điều kiện mà các luật sư Mỹ trong vụ kiện của người Việt Nam đã không làm tròn bổn phận).
Luật sư Mỹ đưa ra một loạt các tội danh khác, dựa trên những luật quốc tế khác, để quy trách nhiệm cho các hãng hóa chất Mỹ, tất cả đều đã bị Tòa Án New York bác bỏ. Đó là các tội danh như: Tội ác chiến tranh, diệt chủng, chống nhân loại, tra tấn, hành hung, cố ý hay bất cẩn gây thống khổ tinh thần, bất cẩn gây tử vong, làm giầu bất chính và làm tổn hại môi trường.
Một phái đoàn nguyên đơn Việt nam có đến Harvard thuyết trình, gồm có giáo sư Đại học Hà Nội Phan Thị Phi Phi, cựu chiến binh Nguyễn Văn Quý và một vài luật sư của họ. Tôi có hỏi và góp ý kiện là không nên đưa ra lời cáo buộc về tội ác chiến tranh. Tòa án đã bác luận cứ các tội danh này, quá rộng lớn, chẳng khác gì lấy súng săn có đạn bắn tỏa ra nhiều viên đạn để bắn một con ruồi, thật là vô ích. Tòa án cũng nói là một số các luật lệ đao to búa lớn nói trên chỉ áp dụng cho các quốc gia, chứ không áp dụng cho các công ty tư nhân.
B. Luật sư Mỹ của nguyên đơn Việt Nam đã không dẫn chứng liên hệ nhân quả dùng để thuyết phục Tòa án.
Chánh án Weinstein có nói như vậy, vì ông cho là bằng chứng về sự liên hệ nhân quả phải có từ một số lớn các dữ kiện nghiên cứu khoa học về bệnh lý và dịch tễ, vì việc khai quang diễn tiến trên một số diện tích rất lớn và động chạm đến số dân cư rất đông mà nguyên đơn nói là 4 triệu người. Ông nói là nồng độ của chất độc dioxin trong chất khai quang agent orange quá nhỏ, vì thế thuốc khai quang là thuốc diệt cỏ, chứ không phải là thuốc độc. Và Ông Chánh Án nói là nguyên đơn nói quá ngắn gọn, không đủ chứng minh liên hệ nhân quả là: thuốc nào của hãng Dow Chemical đã tác hại đến mấy người nguyên đơn, tức là 25 người gồm các trẻ em và cha mẹ, giám hộ của họ ở Miền Bắc Việt Nam.
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang, tức là có các đường bay của phi cơ đi qua, và các con số bệnh nhân có thể gán ghép cho chất Da Cam trong các vùng đất đó ở Miền Nam Việt Nam. Tức là phải theo phương pháp sinh học mới, là thống kê hàng lọat các dữ kiện A (các đường bay khai quang) đi liền với các dữ kiện B ( số bệnh tật) và chứng minh là có liên hệ thống kê giữa các dữ kiện ấy thì mới chứng minh được liên hệ nhân quả giữa chất khai quang và bệnh tật. Đằng này các luật sư nguyên đơn chỉ tập trung vào một vài người ở Miền Bắc Việt nam, có đi Nam đánh trận, và chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người ở trong Miền Nam.
Tôi có hỏi phái đoàn thuyết trình ở Havard tại sao không đem cả những người Miền Nam Việt Nam vào vụ kiện, kể cả những người hiện đang định cư ở Mỹ và có thể đang là công dân Mỹ, họ cũng sống ở những vùng khai quang và họ có thể to mồm trong dư luận Mỹ để giúp vụ kiện tập thể nhân danh toàn thể số dân chúng nạn nhân này , thì phái đoàn không trả lời được. Việc ích kỷ chỉ nghĩ đến các nguyên đơn gốc từ Bắc Việt nam mà quên đại đa số các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam, nơi rải chất khai quang là một lầm lẫn, nhưng Chánh án Weinstein cũng còn rộng lượng nói rằng ông không bác bỏ Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam /Dioxin Viet Nam -lập tại Miền Bắc, và Hội chỉ để ý đến các nạn nhân đi đánh trận ở Miền Nam rồi về Bắc- ra ngọai vụ, mặc dầu các hãng bị đơn đòi như vậy.
Tôi cũng hỏi có muốn giúp ý kiến thì tôi sẵn sàng, nhưng luật sư Mỹ không nói gì. Bởi vì tôi có biết một chuyện có thể khiến cho luật sư của nguyên đơn Việt Nam không thể đưa ra bằng chứng hàng lọat (massive evidence) về các đường bay khai quang ở các vùng lãnh thổ ở Miền Nam Việt Nam và các số bệnh nhân trong các vùng đó: là họ không biết đến các bản đồ các đường bay (flight paths) của các máy bay khai quang và tổng số các bệnh nhân tại các vùng khai quang mà tôi đã đựợc đọc thấy tại nhà bác sĩ Hoàng Đình Cầu, nguyên thứ trưởng Y tế và Khoa Trưởng Đại Hoc Y Khoa, mấy năm trước khi ông qua đời. Vì Ông là anh rể họ, Ông tâm sự với tôi và cho tôi xem những cuốn sách rất dầy như những cuốn tự vị về các đường bay, và nói rằng đây là bản sao ông còn giữ, còn bản chính thì đã trao cho người kế quyền của ông trong chức vụ Chủ tịch Ủy Ban 1080 của Việt Nam chuyên về chất Da Cam, là bác sĩ Lê Cao Đại, cựu sinh viên của ông. Tôi nhớ là có mời bác sĩ Lê Cao Đại đến nhà tôi ở gần trường Harvard dùng cơm trưa khi ông có việc qua thăm Mỹ, nhưng hồi đó tôi chưa được bác sĩ Cầu kể chuyện về sổ sách đường bay nên dịp đó đã không hỏi bác sĩ Đại.
Viện trợ nhân đạo?
Tôi nghĩ việc kiện tụng ở Tòa án chống các công ty tư nhân thì đã đâm lao phải theo lao, vì nếu để cho thua luôn thì sẽ có ảnh hưởng xấu khi xin viện trợ nhân đạo, vì cái lý lẽ để mặc cả yếu hẳn đi.
Còn liệu có cơ may có thể thắng hay không thì tùy thuộc ở việc tranh đấu kiên trì ở tòa Kháng Cáo, Tòa ấy có thể bắt Tòa Liên Bang ở dưới xử lại. Như chính ông Chánh Án Weinstein có nói là, nếu xử lại khi Tòa Kháng án bác phán quyết của Ông, thì Ông sẽ chú tâm xét kỹ đến các dữ kiện khoa học nêu ra liên hệ nhân quả giữa khai quang và bệnh tật, và ông chưa bác bỏ những liên hệ nhân quả đó, vì còn quá sớm. Các luật sư nguyên đơn phải ráng tìm lại các bản đồ các đường bay và các dữ kiện thống kê bệnh tật ở các vùng rộng lớn ở Miền Nam Việt nam, chứ không thể nói sơ sài như trong phiên Tòa trước đây và chỉ nói đến các người Việt ở Miền Bắc.
Do đó, việc xin viện trợ nhân đạo, tức là xin chính quyền Mỹ và nhân dân Mỹ, thì nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân, vì nhỡ ra các công ty tư nhân tuyên bố phá sản thì việc kiện là công “dã tràng se cát Biển Đông”. Việc chính phủ Bush đã giúp Việt Nam về việc đối phó với bệnh SARS, bệnh AIDS, là một bằng chứng cho thấy viện trợ nhân đạo vẫn có thể có.
Việc vận động xin viện trợ nhân đạo cũng là ý kiến của bác sĩ Hoàng Đình Cầu khi trả lời câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi đó hỏi ý kiến có nên kiện hay không, khi có một phái đoàn Mỹ có luật sư đi kèm con ông Đô Đốc Zumwalt sang Việt Nam xúi kiên tụng, thì bác sĩ Cầu nói nên dùng đường lối thương lượng xin viện trợ nhân đạo. Viện trợ này có thể giúp vào việc ủng hộ tài chánh và cộng tác trong các cuộc nghiên cứu khoa học về nhân quả trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước Việt Nam có rải chất khai quang và có bệnh tật nhiều; và cũng có thể tiến tới vấn đề chữa trị dài hạn cho các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam là những người bạn cũ của Mỹ, ở Miền Bắc là những người bạn mới của Mỹ. Không nên kỳ thị người Miền Nam trong vấn đề viện trợ nhân đạo này, như đã xảy ra trong một vài việc làm khó khi thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ nhận viện trợ xe lăn phải đóng thuế, mà báo Nhật Bản đã nêu ra cách nay vài năm.
Nạn nhân Da Cam, với những hiện tượng bệnh tật có thật và rõ rệt tận mắt, mà ai trông thấy cũng phải mủi lòng, chắc chắn sẽ làm cho lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ trổi dậy và họ sẽ viện trợ nhân đạo nhưng với điều kiện đừng nói đến “Tội ác chiến tranh”, chỉ làm cho dân Mỹ quay nhìn đi chỗ khác.
Link bản án 233: https://img.nyed.uscourts.gov/files/opinions/amoj-04-cv-400-mdl38.pdf
Luật sư Tạ Văn Tài là Tiến sĩ chính trị học, Đại học Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh, Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.
Đánh giá và ý kiến của luật sư Tài đề cập đến những diễn biến xảy ra trước tháng 6.2007 xung quanh việc Việt Nam muốn theo đuổi vụ kiện chất da cam.
Ta chỉ việc phân tích bản án 233 trang (vụ số 04-CV-400) ngày 10 tháng 3, 2005 của Chánh án Weinstein của Tòa án Liên Bang ở New York thì thấy lý do các nguyên đơn Việt Nam thất kiện: Các luật sư Mỹ của họ đã làm hại các nguyên đơn, vì đã làm trật lất trong việc viện dẫn các căn bản pháp lý của việc kiện và trong việc đưa ra bằng chứng quá sơ sài, mặc dù Chánh Án đã cho nguyên đơn 6 tháng từ ngày 9 tháng 2,2004 để đệ nạp bằng chứng.
A. Luật sư nguyên đơn đã dựa vào nhiều căn bản pháp lý không có cơ hội thành công, vì trái luật quốc nội và luật quốc tế, và không có sức thuyết phục.
1) Trái luật quốc nội Mỹ, vì các bản án tiền lệ về các vụ kiện của cựu chiến binh Mỹ, trước vụ Việt Nam, kiện các hãng sản xuất chất da cam, như Dow Chemical , Monsanto v.v. đã thua khi đưa ra luận cứ là theo luật quốc nội, các hãng này phải chịu trách nhiệm về các sự tác hại của các chất hoá học rải trên chiến trường, mà họ sản xuất, theo luật product liability (trách nhiệm về sản phẩm gây tai hại), vì Tòa án Liên bang trong các vụ tiền lệ đó đã nói là theo nguyên tắc vô trách nhiệm của nhà thầu chính phủ (‘chính phủ biểu chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm thế, giao hàng hóa như thế ‘) cho nên họ được miễn trách. Luật sư Mỹ trong vụ Việt Nam lại dùng lại lý luận trên của các cựu chiến binh Mỹ đã thua trên căn bản này.
2) Trái luật quốc tế, hay đúng hơn là trái một phần luật quốc tế.
Trước hết, phải nói là Chánh Án Weinstein của Tòa Án Liên Bang NY đã mở ra một chân trời hy vọng cho các nguyên đơn Việt Nam bằng cách nói rõ là Tòa Án Liên Bang Mỹ làm việc trong vụ kiện quốc tế này như một Tòa Án quốc tế (International Court) để xét xử về nhân quyền của các nạn nhân; và do đó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luật quốc nội Mỹ về sự vô trách nhiệm của nhà thầu, mà có thể xét trách nhiệm trực tiếp của các nhà sản xuất các hóa chất, kể cả chất Da Cam, chiếu theo luật Alien Tort Act của Mỹ đã có từ những năm đầu lập quốc Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, công nhận cho người ngọai quốc được kiện các bị đơn ở Mỹ đã vi phạm nhân quyền ở ngọai quốc.
Trở lại vấn đề các nhà sản xuất hóa chất khai quang bị coi là vi phạm nhân quyền khi sản xuất các chất khai quang đem rải ở Việt nam, làm hại cho dân Việt Nam - Nếu có đủ bằng chứng là có liên hệ nhân quả giữa sản phẩm thuốc khai quang rải hay phun và các bệnh tật của người dân trong các khu vực rải thuốc đó (sẽ bàn ở phần sau về điều kiện dẫn chứng liên hệ nhân quả phải có này, thì mới thắng kiện, điều kiện mà các luật sư Mỹ trong vụ kiện của người Việt Nam đã không làm tròn bổn phận).
Luật sư Mỹ đưa ra một loạt các tội danh khác, dựa trên những luật quốc tế khác, để quy trách nhiệm cho các hãng hóa chất Mỹ, tất cả đều đã bị Tòa Án New York bác bỏ. Đó là các tội danh như: Tội ác chiến tranh, diệt chủng, chống nhân loại, tra tấn, hành hung, cố ý hay bất cẩn gây thống khổ tinh thần, bất cẩn gây tử vong, làm giầu bất chính và làm tổn hại môi trường.
Một phái đoàn nguyên đơn Việt nam có đến Harvard thuyết trình, gồm có giáo sư Đại học Hà Nội Phan Thị Phi Phi, cựu chiến binh Nguyễn Văn Quý và một vài luật sư của họ. Tôi có hỏi và góp ý kiện là không nên đưa ra lời cáo buộc về tội ác chiến tranh. Tòa án đã bác luận cứ các tội danh này, quá rộng lớn, chẳng khác gì lấy súng săn có đạn bắn tỏa ra nhiều viên đạn để bắn một con ruồi, thật là vô ích. Tòa án cũng nói là một số các luật lệ đao to búa lớn nói trên chỉ áp dụng cho các quốc gia, chứ không áp dụng cho các công ty tư nhân.
B. Luật sư Mỹ của nguyên đơn Việt Nam đã không dẫn chứng liên hệ nhân quả dùng để thuyết phục Tòa án.
Chánh án Weinstein có nói như vậy, vì ông cho là bằng chứng về sự liên hệ nhân quả phải có từ một số lớn các dữ kiện nghiên cứu khoa học về bệnh lý và dịch tễ, vì việc khai quang diễn tiến trên một số diện tích rất lớn và động chạm đến số dân cư rất đông mà nguyên đơn nói là 4 triệu người. Ông nói là nồng độ của chất độc dioxin trong chất khai quang agent orange quá nhỏ, vì thế thuốc khai quang là thuốc diệt cỏ, chứ không phải là thuốc độc. Và Ông Chánh Án nói là nguyên đơn nói quá ngắn gọn, không đủ chứng minh liên hệ nhân quả là: thuốc nào của hãng Dow Chemical đã tác hại đến mấy người nguyên đơn, tức là 25 người gồm các trẻ em và cha mẹ, giám hộ của họ ở Miền Bắc Việt Nam.
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang, tức là có các đường bay của phi cơ đi qua, và các con số bệnh nhân có thể gán ghép cho chất Da Cam trong các vùng đất đó ở Miền Nam Việt Nam. Tức là phải theo phương pháp sinh học mới, là thống kê hàng lọat các dữ kiện A (các đường bay khai quang) đi liền với các dữ kiện B ( số bệnh tật) và chứng minh là có liên hệ thống kê giữa các dữ kiện ấy thì mới chứng minh được liên hệ nhân quả giữa chất khai quang và bệnh tật. Đằng này các luật sư nguyên đơn chỉ tập trung vào một vài người ở Miền Bắc Việt nam, có đi Nam đánh trận, và chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người ở trong Miền Nam.
Tôi có hỏi phái đoàn thuyết trình ở Havard tại sao không đem cả những người Miền Nam Việt Nam vào vụ kiện, kể cả những người hiện đang định cư ở Mỹ và có thể đang là công dân Mỹ, họ cũng sống ở những vùng khai quang và họ có thể to mồm trong dư luận Mỹ để giúp vụ kiện tập thể nhân danh toàn thể số dân chúng nạn nhân này , thì phái đoàn không trả lời được. Việc ích kỷ chỉ nghĩ đến các nguyên đơn gốc từ Bắc Việt nam mà quên đại đa số các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam, nơi rải chất khai quang là một lầm lẫn, nhưng Chánh án Weinstein cũng còn rộng lượng nói rằng ông không bác bỏ Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam /Dioxin Viet Nam -lập tại Miền Bắc, và Hội chỉ để ý đến các nạn nhân đi đánh trận ở Miền Nam rồi về Bắc- ra ngọai vụ, mặc dầu các hãng bị đơn đòi như vậy.
Tôi cũng hỏi có muốn giúp ý kiến thì tôi sẵn sàng, nhưng luật sư Mỹ không nói gì. Bởi vì tôi có biết một chuyện có thể khiến cho luật sư của nguyên đơn Việt Nam không thể đưa ra bằng chứng hàng lọat (massive evidence) về các đường bay khai quang ở các vùng lãnh thổ ở Miền Nam Việt Nam và các số bệnh nhân trong các vùng đó: là họ không biết đến các bản đồ các đường bay (flight paths) của các máy bay khai quang và tổng số các bệnh nhân tại các vùng khai quang mà tôi đã đựợc đọc thấy tại nhà bác sĩ Hoàng Đình Cầu, nguyên thứ trưởng Y tế và Khoa Trưởng Đại Hoc Y Khoa, mấy năm trước khi ông qua đời. Vì Ông là anh rể họ, Ông tâm sự với tôi và cho tôi xem những cuốn sách rất dầy như những cuốn tự vị về các đường bay, và nói rằng đây là bản sao ông còn giữ, còn bản chính thì đã trao cho người kế quyền của ông trong chức vụ Chủ tịch Ủy Ban 1080 của Việt Nam chuyên về chất Da Cam, là bác sĩ Lê Cao Đại, cựu sinh viên của ông. Tôi nhớ là có mời bác sĩ Lê Cao Đại đến nhà tôi ở gần trường Harvard dùng cơm trưa khi ông có việc qua thăm Mỹ, nhưng hồi đó tôi chưa được bác sĩ Cầu kể chuyện về sổ sách đường bay nên dịp đó đã không hỏi bác sĩ Đại.
Viện trợ nhân đạo?
Tôi nghĩ việc kiện tụng ở Tòa án chống các công ty tư nhân thì đã đâm lao phải theo lao, vì nếu để cho thua luôn thì sẽ có ảnh hưởng xấu khi xin viện trợ nhân đạo, vì cái lý lẽ để mặc cả yếu hẳn đi.
Còn liệu có cơ may có thể thắng hay không thì tùy thuộc ở việc tranh đấu kiên trì ở tòa Kháng Cáo, Tòa ấy có thể bắt Tòa Liên Bang ở dưới xử lại. Như chính ông Chánh Án Weinstein có nói là, nếu xử lại khi Tòa Kháng án bác phán quyết của Ông, thì Ông sẽ chú tâm xét kỹ đến các dữ kiện khoa học nêu ra liên hệ nhân quả giữa khai quang và bệnh tật, và ông chưa bác bỏ những liên hệ nhân quả đó, vì còn quá sớm. Các luật sư nguyên đơn phải ráng tìm lại các bản đồ các đường bay và các dữ kiện thống kê bệnh tật ở các vùng rộng lớn ở Miền Nam Việt nam, chứ không thể nói sơ sài như trong phiên Tòa trước đây và chỉ nói đến các người Việt ở Miền Bắc.
Do đó, việc xin viện trợ nhân đạo, tức là xin chính quyền Mỹ và nhân dân Mỹ, thì nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân, vì nhỡ ra các công ty tư nhân tuyên bố phá sản thì việc kiện là công “dã tràng se cát Biển Đông”. Việc chính phủ Bush đã giúp Việt Nam về việc đối phó với bệnh SARS, bệnh AIDS, là một bằng chứng cho thấy viện trợ nhân đạo vẫn có thể có.
Việc vận động xin viện trợ nhân đạo cũng là ý kiến của bác sĩ Hoàng Đình Cầu khi trả lời câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi đó hỏi ý kiến có nên kiện hay không, khi có một phái đoàn Mỹ có luật sư đi kèm con ông Đô Đốc Zumwalt sang Việt Nam xúi kiên tụng, thì bác sĩ Cầu nói nên dùng đường lối thương lượng xin viện trợ nhân đạo. Viện trợ này có thể giúp vào việc ủng hộ tài chánh và cộng tác trong các cuộc nghiên cứu khoa học về nhân quả trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước Việt Nam có rải chất khai quang và có bệnh tật nhiều; và cũng có thể tiến tới vấn đề chữa trị dài hạn cho các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam là những người bạn cũ của Mỹ, ở Miền Bắc là những người bạn mới của Mỹ. Không nên kỳ thị người Miền Nam trong vấn đề viện trợ nhân đạo này, như đã xảy ra trong một vài việc làm khó khi thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ nhận viện trợ xe lăn phải đóng thuế, mà báo Nhật Bản đã nêu ra cách nay vài năm.
Nạn nhân Da Cam, với những hiện tượng bệnh tật có thật và rõ rệt tận mắt, mà ai trông thấy cũng phải mủi lòng, chắc chắn sẽ làm cho lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ trổi dậy và họ sẽ viện trợ nhân đạo nhưng với điều kiện đừng nói đến “Tội ác chiến tranh”, chỉ làm cho dân Mỹ quay nhìn đi chỗ khác.
Link bản án 233: https://img.nyed.uscourts.gov/files/opinions/amoj-04-cv-400-mdl38.pdf
Luật sư Tạ Văn Tài là Tiến sĩ chính trị học, Đại học Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh, Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.
Đánh giá và ý kiến của luật sư Tài đề cập đến những diễn biến xảy ra trước tháng 6.2007 xung quanh việc Việt Nam muốn theo đuổi vụ kiện chất da cam.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)