Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Video editing.



Video thử cài code: trump nói về vụ kill Isis:

Video gốc, embed:

<iframe width="1280" height="720" src="https://www.youtube.com/embed/GKKpkJansOA" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture" allowfullscreen></iframe>





Video đã bỏ code vào: [Chạy từ 0:00 stop 0:24]

https://www.youtube.com/embed/GKKpkJansOA?start=000&end=024


Cách copy embed code của video rồi cài timming start và end:



https://www.youtube.com/embed/chElHV99xak?start=53&end=59



Các loại code cho video:

 developers.google.com/youtube/player_parameters#Parameters










Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

Hướng về Hà Nội

Người miền Nam trước 75 yêu Hà Nội qua văn thơ nhạc và chính con người của người Hà Nội -những người di cư vào Nam năm 54- nhắc đến người HN thời đó, nét thanh lịch, giọng nói và sự lễ phép không người miền nào có thể sánh được (ngay tại Hải ngoại, nếu ai có lần coi được những video nói chuyện với người Hà Nội cũ sẽ thấy, điển hình như nữ diễn viên Kiều Chinh, Kim Tước)

Mình là một người sinh ra và lớn lên trong Nam đã không ngừng yêu Hà Nội như thế, hí hí

Nhạc phẩm "Hướng về Hà Nội" là một trong những bài được phổ biến và yêu mến có công rất lớn trong lòng người miền Nam, bài hát đã được phát hầu như hàng đêm trên đài phát thanh Sàigòn để đến mức những người không biết gì về Hà Nội đã yêu vô điều kiện một địa phương chỉ có trong thơ văn lẫn mộng tưởng. Cũng nhờ một phần công phổ biến và gìn giữ này, nhạc phẩm này đã không chết theo thời gian như những bài thơ, nhạc khúc khác đã chìm vào dĩ vãng. Số phận đã ưu đãi nó để ngày nay những người Hà Nội tự hào và những người không Hà Nội tiếp tục yêu vô điều kiện những cô "Hà Nội dáng kiều thơm" của một Hà Nội mãi trong tưởng tượng.

Tác giả nhạc phẩm là nhạc sỹ Hoàng Dương tâm sự: 
Vào những năm 1953 – 1954 khi ông đang hoạt động cách mạng tại đội tuyên truyền văn nghệ Thành bộ Hà Nội, chiến tranh nổ ra hết sức quyết liệt, đội của ông phải thường xuyên chạy trốn trước sự truy đuổi của quân thù. Lúc bấy giờ, Hoàng Dương có yêu một người con gái ở nội thành, tình yêu thời chiến chinh lãng mạn và đẹp vô cùng. Một đêm khi đang trú tại nhà của một người dân ở ngoại thành, trong tiếng pháo dội về thành phố, bồi hồi nhớ đến người yêu. Không nén được cảm xúc, ông liền ngồi vào bàn, viết lên những dòng nhạc cho bài hát “Hướng về Hà Nội”. Cảm xúc đến tự nhiên, dạt dào khiến Hoàng Dương viết rất rất nhanh và hoàn tất ca khúc ngay trong đêm hôm đó:

“Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió gây thơ, thấu chăng lòng khách bơ vơ…”


Ca khúc đã vượt qua ranh giới cảm xúc cá nhân và chạm vào nỗi niềm chung của những người đã từng sống ở Hà Nội. Khi mới ra đời, cùng với “nỗi buồn tiểu tư sản”, ca khúc “Hướng về Hà Nội” không được biểu diễn công khai trong một thời gian dài. Thậm chí, ca sĩ Ngọc Bảo lại hát “Hướng về Hà Nội” trên đài phát thanh để nhắn gửi bạn bè trong Nam nên càng bị… cấm. Năm 1954, bài hát được phổ biến rộng rãi và nổi tiếng qua giọng hát của Kim Tước tại miền Nam. Ca khúc chất chứa trong lòng một nỗi niềm day dứt khôn nguôi, giai điệu mang đầy tính tự sự cùng với ca từ đẹp, giàu chất thơ khiến người nghe nhớ Hà Nội đến nao lòng:

“…Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi
Biết người có nhớ nhung chi
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy anh về…”


Năm 1954, ca khúc “Hướng về Hà Nội” được Tinh Hoa Miền Nam xuất bản, ngoài bìa có hình vẽ một thiếu nữ chít khăn mỏ quạ màu nâu nhạt do hoạ sĩ Duy Liêm trình bày. Hai ca khúc “Tiếc thu” và “Hướng về Hà Nội” của Hoàng Dương đã được nữ danh ca Kim Tước trình bày lần đầu tiên, được công chúng nồng nhiệt đón nhận.

Kể từ ngày ấy, ca khúc được lan truyền rộng rãi trong và ngoài nước, nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế tái bản nhiều lần mới đáp ứng được sự hâm mộ của độc giả. Những ca sĩ nổi tiếng một thời như Mai Hương, Duy Trác,… đã chinh phục người nghe bằng giai điệu trữ tình của “Hướng về Hà Nội”.

Mãi gần đây, những năm cuối cùng của thế kỷ 20, bài hát mới được cho phép hồi sinh và đón nhận nhiều yêu thích của khán giả. Vào năm 1994 trong chương trình “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam” do Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức tại Nhà hát Lớn, ca khúc “Hướng về Hà Nội” đã may mắn được chọn trong danh mục biểu diễn. Ca sĩ Thu Hà đã giúp nhạc sĩ Hoàng Dương đưa ca khúc trở lại với công chúng, xóa đi lớp bụi thời gian của mấy chục năm về trước. Các nhà phê bình âm nhạc -bọn chuyên vuốt đuôi- đã không tiếc lời nhận định: “Hướng về Hà Nội” là sự kết tinh tài hoa, lắng đọng trong không gian thời gian và linh thiêng của sông núi:

“…Một ngày, mùa chinh chiến ấy,
Chim đã xa bầy,
mịt mờ bên trời bay…
Một ngày, tả tơi hoa lá,
ngóng trông về xa …
luyến thương hình bóng qua…”


Sưu tầm, trích/edit từ Dòngnhạcxưa.com
















Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Khúc thụy du.

Khúc Thụy Du là tên ghép giữa chữ Thụy -tên lót của cô gái (Thụy Châu) và chữ Du- tên đầu trong bút danh Du Tử Lê của ông.

"Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn khởi đầu. Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải tỏa khu Ngã Tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.

Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.

Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải tỏa khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….

Trên đường về, khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.

Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Sàigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại - - Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.

Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…

Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!

Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 bài thơ.

Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thơ của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ - bày quạ rỉa xác người - (của tươi đời nhượng lại) - bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…

Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?

Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai họa, một tuyệt lộ.

Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).

Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 1973.

Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (tọa lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thụy Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”

Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.

Khi ca khúc “Khúc Thụy Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thụy Du”…

Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông..."


Bonus:
Thụy của Khúc Thụy Du tên thật là Huỳnh Thị Châu (có tài liệu khác ghi là Huỳnh Thụy Châu), từng là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Sài Gòn Nhỏ, tòa soạn đặt tại California, Hoa Kỳ. Cái tên Thụy Châu chỉ là một trong những bút danh của bà (các bút danh khác còn có Hoàng Dược Thảo, Đào Nương, Nghé Ngọ, ...). Ngoài ra, bà Huỳnh Thị Châu còn có họ tên tiếng Pháp là Brigitte Lauré Huỳnh, mang quốc tịch Pháp. Hiện cái tên phổ biến để gọi bà là Đào Nương Hoàng Dược Thảo.

Du Tử Lê và Đào Nương Hoàng Dược Thảo từng là vợ chồng và có với nhau 2 người con. Năm 1975 khi Du Tử Lê sang Hoa Kỳ thì năm 1978, nhờ có quốc tịch Pháp, bà Châu đi Pháp rồi qua Hoa Kỳ.
Năm 1980, Huỳnh Thị Châu và Du Tử Lê ly dị, sau đó bà tái giá mấy lần.



như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời

như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được

như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay

trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình

trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên

đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi ?

mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài

ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi

tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết

tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi

không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể

anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển

(Cóp nhặt từ Atabook.com)

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Joe Biden

Bạn có từng nghe đến ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ Joseph R. Biden, người đã từng tố cáo việc Tổng thống Trump chống lại những người Trung Mỹ -Central America- với phong trào xin tị nạn hàng loạt thời gian qua, nhưng chính J Biden lại là người đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc tái định cư những người tị nạn Nam Việt Nam (những người đã giúp đỡ Hoa Kỳ trong chiến tranh có nguy cơ bị trả thù).

Theo Washington Examiner, trích dẫn hồ sơ từ thời chính quyền Tổng thống Gerald R. Ford, khi ông Biden đang là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, chính Biden đã từ chối việc tỵ nạn hàng trăm ngàn người Việt chạy trốn khỏi chiến thắng sắp đến của Bắc Việt và có khả năng bị đàn áp từ Cộng sản.

Ông Biden, lúc đó lập luận hoàn toàn trái ngược với những gì ông và đảng Dân chủ ngày nay lớn tiếng rao giảng là "những quy tắc đạo đức", lúc đó ông phát biểu rằng: "Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, hoặc đạo đức hay nói một cách khác đi là nhiệm vụ di tản người nước ngoài" (người miền Nam Việt Nam).

Sau đó ông Biden lập lại: "Hoa Kỳ không có nghĩa vụ phải sơ tán một hay thậm chí một trăm lẻ một ngàn người Nam Việt Nam nào cả".

Trong một cuộc họp vào tháng 4/1975 tại Nhà Trắng của các quan chức về chính sách đối ngoại trong đó có Henry Kissinger, ông Biden nói rằng ông sẽ không bỏ phiếu để tài trợ cho việc di tản những người nào mà không phải là người Mỹ.

Ông nói: "Chúng ta nên tập trung vào việc rút quân Mỹ ra, việc cứu người Việt ra và viện trợ quân sự (cho chính phủ Nam Việt Nam) là chuyện hoàn toàn khác".

Ông Kissinger trình bày với ông Biden và những người khác trong phái đoàn Thượng viện rằng: "Chúng ta có trách nhiệm với khoảng từ 170.000 đến một triệu người Nam Việt Nam", nhưng ông thượng nghị sĩ Delaware, thành viên của Ủy ban Đối ngoại là ông Joe Biden đã phủ định điều này.

Hai tuần trước khi Sài Gòn sụp đổ, Biden đã phát biểu: "Tôi sẽ bỏ phiếu thuận cho bất kỳ số tiền nào để di tản người Mỹ ra ngoài, nhưng tôi không muốn liên quan với việc di tản người Việt".

Điều này đã làm Tổng thống Ford tức giận, ông gọi việc từ chối như vậy là sự phản bội các giá trị của Mỹ. Điều tương tự giống như những gì đảng Dân chủ đang nói về Trump vào năm 2019.

Tổng thống Ford nói: "Chúng ta đã mở cửa cho người Hungary, truyền thống của chúng ta là chào đón những người bị áp bức",

Trong một chuyên mục của Miami Herald tháng trước, ông Biden đã lên tiếng với chính quyền Trump trong nỗ lực ngăn chặn những người xin tị nạn ở biên giới "là hành động lật đổ các giá trị của nước Mỹ".

Nhưng ông Biden đã từng không đồng ý mở cửa nước Mỹ cho những người Nam Việt Nam đang gặp nguy hiểm.

Ông là một trong ba thành viên hội đồng đối ngoại bỏ phiếu chống lại yêu cầu tài trợ của Ford cho Việt Nam và là một trong số 14 người chống lại việc này tại Thượng viện.

Kết:
Có hơn 130.000 người Nam Việt Nam chạy trốn khỏi những người Cộng sản chiến thắng cuối cùng đã được sơ tán và được tị nạn tại Hoa Kỳ.https://www.washingtonexaminer.com/news/the-us-has-no-obligation-biden-fought-to-keep-vietnamese-refugees-out-of-the-us

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019

Chuyện kể của anh Bảy.

Chuyện kể của anh Bảy,
Ngày 21/9/1966 trong chuyến bay tuần tiễu gồm phi đội 4 máy bay, nhận chỉ thị từ trạm điều khiển mặt đất -GCI, trạm rada đánh chặn- cho lệnh tấn công mục tiêu khoảng 16 km phía trước, anh Bảy lúc đó đang dẫn đầu, sau khoảng 7 phút anh phát hiện 2 chiếc tiêm kích F105 khoảng cách chừng 3-4 km. Cả phi đội xông lên rượt theo, sau đó anh rẽ vào phía đuôi của hai chiếc F105 nhưng vẫn xa ngoài tầm bắn, biết rằng các máy bay F105 bao giờ cũng bay đội hình 4 chiếc, Bảy dùng mắt lùng tìm khắp bầu trời chung quanh để tìm 2 chiếc còn lại. Thường thì chúng rất dễ thấy -do những vệt khói đen xịt ra từ động cơ, kiểu sơn ngụy trang xanh đậm và nâu đặc trưng- rất khó nhìn thấy trên nền rừng xanh thẫm, nhưng lại nổi bật trên nền trời xanh lơ, nhưng Bảy không thấy gì, chắc ăn không thấy gì thêm, anh cho lệnh người wingman bay kế bên Đỗ Huy Hoàng tấn công chiếc F105 phía trước bên trái.

Những phi công Hoa Kỳ khi bay trên đất địch, do không có ra đa mặt đất hướng dẫn luôn bay cặp gần nhau -welded wing, gọi là vị trí phòng thủ- ở thế bay này, người wingman luôn bay sát với chỉ huy nhằm kiểm soát phía sau đội hình bay để cho người chỉ huy lái chiếc kia chỉ cần tập trung chú ý tấn công hay tác xạ tiêu diệt mục tiêu phía trước. Tuy vậy chiến thuật tách wingman ra tác chiến riêng lẻ cũng được không quân VNDCCH cho phép xử dụng.

Hoàng quẹo rộng bên trái, nhắm thẳng ngay sau chiếc F105 bên trái và cùng với Bảy chờ hai mục tiêu quẹo cua để tấn công, bất chợt 2 chiếc F105 nghiêng xoắn vào một đường bay thấp xuống.

Bảy hét lên trong máy "Bị phục kích rồi"

Bay thấp -ở mức quá thấp để radar mặt đất bắt được- và xa phía sau 2 chiếc F105 là 2 chiếc chiến đấu cơ F105 khác dẫn đầu là Trung úy Karl Richter và Đại úy Ralph J. Beardsley, hai người đang bay tìm kiếm các địa điểm SAM để tấn công, Richter và đồng đội của anh đang bay ở cao độ rất thấp, theo họ đến mục tiêu thì bất ngờ Richter nhìn thấy nhóm máy bay MiG17. Sau này anh có kể lại: "họ lướt ngay trước mặt chúng tôi rất ngộ, cách khoảng 2 km, thật là hài hước. Chúng tôi rất ít khi gặp được  MiG, phải mất cả một giây trước khi điều này làm tâm trí tôi sôi lên...Chúng không phải là loại máy bay giống như bất kỳ máy bay nào chúng ta đang bay."

Richter bấm bỏ bình xăng phụ, với họng súng M-61 Gatling sẵn sàng, hướng thẳng về chiếc MiG17 bên trái (do Hoàng lái) anh kể lại: "mục tiêu thật dễ dàng" "tôi đưa ống nhắm hơi chếch về phía trước mũi anh ta và bắt đầu bắn"

Richter tiếp tục bắn loại đạn 20 mm với tốc độ 100 viên/giây "tôi tự nhủ, thiệt là nhục nếu mà mình bắn trật chiếc này" cùng lúc đó giọng wingman, Beardsley vang trong máy "mày bắn trúng rồi, trúng rồi" Richter nhìn thấy lửa phụt ra từ phía đuôi chiếc MiG, nhưng dường như chiếc MiG vẫn bay được bình thường.

Hoàng chợt nghe tiếng 'bình bình' đập vào thân máy bay, chiếc máy bay xoay tròn một vòng. Phản ứng anh bấm afterburner, chiếc máy bay vừa vọt về phía trước và càng nghiêng về bên phải, anh gắng thử điều khiển nó, chiếc máy bay có vẻ tuân theo nhưng anh cảm thấy không bình thường, nhìn qua cửa kính anh thấy cánh máy bay bên phải rách tươm "nhưng nó vẫn điều khiển được nên tôi vẫn cố lái nó".

Richter bắn thêm một loạt đạn nữa.

Hoàng nhanh chóng kiểm tra bảng điều khiển trước mặt, hệ thống máy phản lực chỉ dấu bình thường nhưng "khi tôi nghĩ mọi chuyện ổn rồi thì bất ngờ thân máy bay vỡ ra từng mảng" bảng điều khiển rung lên rồi vỡ tan, Hoàng chợt thấy nhói bên hông và lưng, anh chỉ kịp chộp lấy chiếc cần thoát hiểm giữa hai chân.

Vừa lúc Richter xả hết loạt đạn, cánh phải của chiếc MiG gẫy rời ra, nhiều mảnh vụn văng ra từ đuôi và từng phần máy bay văng tung ra bầu trời chung quanh máy bay. Trong khi Richter phóng cao lên để tránh những mảnh máy bay vỡ vụn anh nhìn thấy người phi công MiG bắn ra khỏi máy bay đồng thời trong máy vang lên tiếng Beardsley "hắn bung dù ngon lành", cả 2 chiếc Thud -tiếng lóng để gọi Thunderchief  F105- tống hết ga vọt lên phía trước.

Bung dù ngon lành hay không, đại nạn của Hoàng chưa chấm dứt ở đây, các phi công VNDCCH luôn mang theo cờ đỏ sao vàng kèm theo balô đựng dù sau lưng để lấy ra vẫy báo hiệu khi sắp tiếp đất nhằm phân biệt bạn thù, đã có trường hợp phi công Bắc Việt bị chính dân quân bắn chết vì nhầm lẫn.

Hoàng kể lại "tôi bị thương chảy máu nhiều bên hông và sau lưng, cánh tay trái bị gãy nên không thể thò ra sau lấy lá cờ ra được"

Trong lúc đó Bảy chỉ còn một mình chống chọi với nhóm F4 vừa xuất hiện, anh cố lạng lách tránh các hoả tiển hết chiếc này đến chiếc khác bắn về phía anh, anh tránh được nhưng làm tiêu hao toàn bộ nhiên liệu, anh kể lại: "tôi né tránh được nhưng đang trong tình thế rất nguy hiểm, xăng cạn gần hết, tôi định nhẩy dù bỏ máy bay nhưng khi hạ độ cao thì các máy bay Mỹ bay vượt qua, chợt thấy chiếc máy bay của anh Võ Vân đang bay phía trước, tôi bám theo và hạ cánh an toàn."

Dù của Hoàng đáp xuống một ánh đồng lúa, anh la lớn lên cho biết anh là phi công miền Bắc nhưng khi các dân quân nghe giọng Nam bộ của anh, họ càng nghĩ anh là phi công VNCH -còn đáng ghét hơn cả phi công Mỹ- Hoàng kể lại: "họ lột bộ đồ bay của tôi ra, trói ngoặt tay ra sau, một nông dân bắt đầu đánh tôi cho tới khi một người lính cản lại"

Hoàng bị thương không đứng nổi nên mọi người chở anh trên chiếc xe bò vào thị trấn, cả hàng giờ sau người ta mới xác nhận được nhân thân anh là phi công VNDCCH. Khi phát hện ra lầm lẫn, họ nhanh chóng cởi trói và đưa anh đi bệnh viện.

Kết,
Sau khi phục hồi, Hoàng được chuyển qua lái MiG19 và bị bắn rớt lần nữa ngày 29/9/1967, những vết sẹo ở cổ và tay trái giờ vẫn còn rõ mồn một từ trận đụng độ với Richter.

Mười tháng sau trận này Richter tử nạn trong một phi vụ khác trên bầu trời Bắc Việt.

Các chiến binh hãy yên nghỉ, Hết.

https://www.airspacemag.com/military-aviation/nguyen-van-bay-and-the-aces-from-the-north-1606486/?all

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2019

MiG 17

http://nasicaa.org/uploads/3/4/7/6/3476155/col_tomb.pdf

Câu chuyện về chiếc MiG17 mang số 3020 sơn cờ VNDCCH trong Bảo tàng không quân Mỹ National Museum of the United States Air Force - Ohio.

Vào năm 1986 chính phủ Ai cập tặng cho bảo tàng Hoa Kỳ mộc chiếc MiG17 cũ để bảo tàng phục chế và trưng bày, chiếc MiG17 được gởi đến Ohio.

Các chuyên viên phục chế tại bảo tàng ở Ohio có ý định phục dựng một phiên bản MiG17 trong chiến tranh Việtnam, qua tìm hiểu nhóm quyết định phục dựng chiếc MiG17 này mang số hiệu 3020 nổi tiếng trong chiến tranh Việtnam.

Huyền thoại về chiếc MiG17-3020.
Trong suốt cuộc chiến, huyền thoại về chiếc MiG17-3020 (từ nay viết gọn là 3020) nó được các phi công Mỹ biết đến vì trong các trận không chiến thông qua các tín hiệu truyền tin thu được nổi bật một cái tên Đại tá Toon/Tomb trong tín hiệu liên lạc phía Bắc Việt -người này được cho là đẳng cấp ace, đã bắn hạ trên 5 mắy bay địch- Câu chuyện càng nổi hơn khi tạp chí Koku-Fan, một tạp chí chuyên về hàng không của Nhật, đăng 2 tấm hình về Mig17 của VNDCCH trong đó có chiếc 3020 với 6 ngôi sao đỏ sơn trên thân -cho biết là nó đã bắn hạ được 6 máy bay địch- mọi người đều cho rằng chiếc 3020 này do Đại tá Toon lái.

Huyền thoại này mãi đến ngày 10/5/1972, Hải quân Trung uý Phi công Randy Cunningham với chiếc F4 Phantom mới phá vỡ, cuộc đụng độ chớp nhoáng ngày hôm đó kết thúc với việc Randy bắn hạ chiếc MiG17-3020, kết thúc một trong những huyền thoại dai dẳng trong cuộc chiến, mọi người đều cho rằng Đại tá Toon đã chết hoặc ít nhất cũng không còn khả năng chiến đấu.

Vấn nạn của bảo tàng.
Trong 2 tấm hình của tạp chí Koku-Fan, chiếc 3020 được sơn ngụy trang vằn vện, chiếc kia nguyên màu bạc kim loại không sơn. Chiếc MiG quà tặng của Aicập thì trong tình trạng quá tệ, thời gian bỏ bê trên khí hậu sa mạc đã làm lớp vỏ hư hỏng phải dặm vá, muốn che những chỗ dặm vá thì tốt nhất là sơn kiểu ngụy trang để dấu những chỗ vá dặm.

Điều ngại ngùng nữa, chiếc 3020 là do Hải quân Mỹ bắn hạ mà bây giờ Bảo tàng Không quân lại dùng nó để trưng bày -điều này hơi nhạy cảm với 2 lực lượng từ trước đến nay- nhưng cuối cùng, không còn lựa chọn, chiếc MiG đã phải sơn ngụy trang và mang số hiệu 3020 với cờ VNDCCH sơn bên hông và cánh.

TB: Trên mạng thấy có phiên bản MiG17-3020 trưng bày tại Bảo tàng San Diego, đây có thể là phiên bản khác.













Thứ Tư, 18 tháng 9, 2019

Chiến dịch 'Bọ ngựa bắt mồi'

Chiến dịch Bọ Ngựa bắt mồi -Operation Praying Mantis- con Bọ Ngựa khi chuẩn bị bắt mồi lúc đứng rình và đưa hai càng trước lên trong tư thế như chắp tay cầu nguyện nên trong tiếng Anh có từ 'Praying Mantis' (nghĩa đen là Bọ Ngựa chắp tay cầu nguyện) có nghĩa là con Bọ Ngựa sắp sửa tấn công, đây cũng là ý nghĩa của chiến dịch. Đây là một cuộc tấn công của Hải quân Mỹ vào 2 giàn khoan dầu của Iran trong vịnh 'Persian Gulf'.

Chiến tranh Iran-Iraq  và cuộc chiến tàu chở dầu (Tanker War)

Năm 1988 lúc cuộc chiến giữa Iran-Iraq đang diễn ra rất quyết liệt -còn có tên gọi là Chiến tranh vùng vịnh I, hay còn gọi là chiến tranh vùng Persian Gulf (vịnh Pécxích)- hai phe chiến tranh bắt đầu tiến hành cuộc chiến nhằm tấn công vào các tàu dầu của các bên liên hệ ở eo biển Hormuz.

Năm 1984, Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã có một mưu kế rất táo bạo nhắm vào Iran nhằm lôi kéo quốc tế hoá cuộc chiến đó là cho Hải quân Iraq tấn công và bắn chìm các tàu dầu của Iran trong vịnh Ba Tư với mục đích là khiêu khích Iran trả đũa bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz -một eo biển rất quan trọng của vùng Trung Đông- nơi mà khoảng 40% lượng dầu mỏ của thế giới phải di chuyển ngang qua đây.

Đúng như Saddam tính toán, eo biển Hormuz bị Hải quân Iran phong tỏa sau đó, mọi tàu dầu của Iraq và các nước Ả Rập ủng hộ Iraq đều bị Iran tấn công hay bắn chìm. Điều này dẫn đến việc Mỹ và các nước Đồng Minh bắt buộc phải nhảy vào can thiệp để bảo vệ nguồn an ninh năng lượng của mình. Cho dù Mỹ đã cảnh cáo về việc phong tỏa eo biển Hormuz sẽ gây ra hậu quả khó lường nhưng hải quân Iran tiếp tục tiến hành nhiều cuộc tấn công vào các tàu chở dầu dân sự của Kuwait và Ả Rập Saudi.

Hải quân Iran vào những năm 80 được xem là mạnh nhất trong khu vực Trung Đông với lực lượng tàu hộ vệ do Anh sản xuất (từ thời Pahlavi), đặc biệt là các tàu hộ vệ tên lửa lớp Alvand.

Trước tình hình này, Hải quân Mỹ bắt buộc phải  tiến hành chiến dịch Earnest Will đưa các tàu chiến của Mỹ vào khu vực vịnh Ba Tư nhằm hộ tống các tàu dầu Kuwait khỏi sự tấn công của Hải quân Iran với lời cảnh báo cứng rắn: ''bất kỳ cuộc tấn công nào của Iran nhằm vào tàu chiến Mỹ sẽ bị đáp trả một cách quyết liệt và mạnh mẽ nhất".

Tàu hộ vệ Mỹ trúng thủy lôi, lý do cho chiến dịch 'Bọ Ngựa bắt mồi' khởi động.

Ngày 14/4/1988, tàu hộ vệ tên lửa USS Samuel B.Roberts của Hải quân Mỹ khi đang làm nhiệm vụ hộ tống tàu chở dầu mang cờ Kuwaitt rong vịnh Ba Tư thì đụng phải thủy lôi của Hải quân Iran rải tại đây. Vụ nổ gây ra vết thủng rộng 4,5m (15 feet) tại thân tàu, rất may là không có thiệt hại về nhân mạng nào xảy ra, tàu sau đó được câu vào Dubai ngày 16/4 để sửa chữa.

Sau vụ nổ, lực lượng người nhái của Hải quân Mỹ tiếp tục thu được thêm rất nhiều ngư lôi tại vùng biển này. Sau khi so sánh các số seri trên thân các ngư lôi này thì hoàn toàn trùng khớp với số ngư lôi mà Mỹ đã thu được từ tàu rải ngư lôi Iran Ajr của Iran bị Mỹ đánh chìm trước đó. Dựa vào những chứng cứ thu được, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan lập tức ra lệnh cho hạm đội Mỹ trong khu vực tấn công những mục tiêu của Iran trong khu vực vịnh Ba Tư.

Diễn tiến trận hải chiến

Ngày 18/4, hai nhóm tàu chiến Mỹ bao gồm cả Tàu sân bay USS Enterprise với Tuần dương hạm USS Truxtun đi bảo vệ trực chỉ hướng hai gian khoan dầu Sassan và Sirri của Iran.

Cuộc chiến được bắt đầu với sự tấn công của 2 nhóm Thủy quân lục chiến:
- Một nhóm gồm khu trục hạm USS Merrill (gồm trong đó là đội không quân đa dụng, biệt đội 1- trực thăng vũ trang HSL35)
- USS Lynde McCormick cùng với tàu vận tải đổ bộ USS Trenton với lực lượng đặc nhiệm hàng không của nó và biệt đội 5 trực thăng vũ trang HSL44.
Với nhiệm vụ phá hủy vũ khí và các cơ sở quân sự đặt trên khu vực giàn khoan dầu Sassan.

Vào 8 giờ sáng, chỉ huy của Khu trục hạm Merrill phát đi một cảnh báo cho những nhân viên dân sự lẫn quân nhân Iran đang phòng thủ trên giàn khoan dầu, ra lệnh rút lui khỏi đó thời hạn là 20 phút, sau đó phía Mỹ sẽ nổ súng. Tại dàn khoan Sassan, lính Iran chống trả quyết liệt bằng đại liên 23 ly ZU-23, các ổ đại liên này nhanh chóng bị dập tắt bởi pháo của các tàu chiến Mỹ bao gồm: USS Merrill, USS Lynde McCormick và phi đội trực thăng vũ trang Cobra, cuối cùng thì lực lượng Iran cũng liên lạc xin ngừng bắn để rút lui, sau khi cho phép một tàu kéo di chuyển phần lớn số nhân sự trên giàn khoan, phía Mỹ tiếp tục tấn công, khi các ổ kháng cự cuối cùng bị diệt, lính thủy đánh bộ và biệt kích SEAL đổ bộ lên dàn khoan -chỉ tìm thấy một lính Iran sống sót bị thương nặng- và đặt bom xung quanh toàn bộ dàn khoan sau đó kích nổ, phá hủy toàn bộ giàn khoan.

Sau khi tiêu diệt giàn khoan Sassan đội tàu chiến Mỹ trực chỉ dàn khoan Rakhsh kế tiếp, đúng lúc này thì 2 chiếc F-4 của Iran vừa bay đến khu vực với ý định tấn công nhóm tàu chiến, gần như lập tức tàu khu trục USS Lynde McCormick lock 2 chiếc F-4 này vào tầm bắn của tên lửa đối không RIM-66 Standard, kết quả 2 chiếc F-4 sợ hãi rút lui, bay trở lại căn cứ mà không dám bắn phát súng nào vào hạm đội Mỹ. Trên đường đến giàn khoan Rakhsh hạm đội Mỹ được lệnh dừng cuộc chiến nhằm cho phía Iran thấy ý định xuống thang chiến tranh của Mỹ.

Lúc này tại giàn khoan Sirri một nhóm khác gồm tuần dương hạm tên lửa USS Wainwright, khu trục hạm USS Simpson và khu trục hạm USS Bagley, đã đồng loạt dùng hoả lực tấn công giàn khoan dầu Sirri. Lực lượng SEAL của Hải quân được giao nhiệm vụ đổ bộ tấn công, bắt giữ tù binh và phá hủy hoàn toàn giàn khoan dầu Sirri nhưng do thiệt hại quá nặng trước cuộc tấn công bằng hoả lực của hải quân, các chỉ huy đã xác định rằng không cần thiết có cuộc đổ bộ của biệt kích lên giàn khoan nữa.

Đáp lại hải quân Iran quyết định tấn công bằng chiến thuật 'du kích trên biển' bất ngờ áp sát mục tiêu bằng tàu cao tốc Boghammar (do Thụy Điển chế tạo) để tấn công các tàu mang cờ Mỹ, Anh và Panama trong khu vực này, trong đó có tàu tiếp liệu Willy Tide, tàu chở dầu York Marine, tàu hàng Scan Bay đều là các tàu dân sự. Trả đũa lại hành động liều lĩnh này của Iran, hai máy bay A-6E Intruder của Mỹ do Trung úy James Engler và Trung úy Paul Webb điều khiển được lệnh xuất kích từ Tàu sân bay USS Enterprise mang theo bom chùm CBU-100 nhằm tiêu diệt các tàu cao tốc này, 2 chiếc A-6E đánh chìm được 1 tàu cao tốc và làm hư hỏng nhiều chiếc khác, buộc nhóm tàu này phải tháo chạy, quay đầu về phía đảo Abu Musa.

Không sợ hãi, Hải quân Iran tiếp tục đưa tàu khu trục Joshan lên nghênh chiến với tàu USS Wainwright, mặc cho thuyền trưởng tàu Wainwright ra lệnh dừng tàu và đầu hàng nếu không sẽ đánh chìm, tàu Joshan bất ngờ khai hoả một tên lửa Harpoon về phía hạm đội Mỹ. Tàu USS Simpson và Wainwright lập tức bắn trả bằng 3 tên lửa Standard làm tàu Joshan hư hỏng nặng đồng thời giết chết toàn bộ lực lượng sĩ quan chỉ huy trên tàu, tàu Joshan trả đũa bằng một tên lửa Harpoon khác nhắm vào tàu USS Bagley nhưng trật mục tiêu, tàu USS Wainwright nhanh chóng áp sát và cùng với USS Bagley dùng hoả lực bắn chìm chiếc tàu Joshan đang bốc cháy rừng rực.

Tàu Joshan vừa chìm xuống đáy biển thì 2 chiếc F-4 nữa của Iran lại bay gần đến khu vực với ý định tấn công tàu USS Wainwright, khi còn cách tàu khoảng 48 km chiếc Wainwright bắn 2 hoả tiễn tầm xa nhằm xua đuổi 2 chiếc chiến đấu cơ, một chiếc ngay lập tức bỏ chạy khi bị lọt vào tầm ngắm của hệ thống radar, chiếc F-4 còn lại không kịp né tránh nhận 1 trái tên lửa nổ cự ly gần, làm một bên cánh hư hỏng và phần thân bị trúng mảnh đạn, hư hỏng nhưng chiếc F-4 này vẫn bay về được căn cứ tại Bandar Abbas.

Mặc dù liên tiếp thiệt hại, Hải quân Iran vẫn tiếp tục tung lực lượng chiến đấu, khu trục hạm Sahand (lớp Alvand do Anh sản xuất) lại được lệnh xuất kích từ Bandar Abbas, chiếc tàu Sahand này nhanh chóng bị 2 máy bay A-6E của chiến hạm USS Joseph Strauss Mỹ phát hiện khi đang bay tuần tra. 

Một cuộc đấu tên lửa giữa Iran và Mỹ diễn ra, Sahand đã bắn tên lửa vào 2 chiếc A-6E Intruder, đáp trả các chiến đấu cơ bắn hai tên lửa Harpoon và 4 tên lửa Skipper dẫn đường bằng laser về phía tàu Sahand, tàu trúng đạn và bốc cháy, chiếc khu trục Sahand cháy từ mũi tàu lan đến đuôi và lửa nhanh chóng lan tới kho đạn của tàu gây nổ làm con tàu thứ hai của Iran chìm.

Xung đột vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, cuối ngày khi một tàu tên lửa khác của Iran là khu trục hạm Sabalan dùng tên lửa tấn công các máy bay A-6E của Mỹ, các chiến đấu cơ này đáp trả bằng cách thả một quả bom Mark 82 dẫn đường bằng laser tấn công tàu Sabalan, làm tàu này bốc cháy và hư hỏng hoàn toàn, đuôi chìm dưới nước, không thể tiếp tục chiến đấu.

Để trả đũa các cuộc tấn công, Iran đã bắn tên lửa đất đối hải Silkworm từ các căn cứ trên đất liền chống lại hạm đội Mỹ ở eo biển Hormuz và chống lại USS Gary ở phía bắc vịnh Ba Tư, nhưng tất cả đều bị trật mục tiêu do kỹ thuật né tránh và ngụy trang của hạm đội. Thậm chí một tên lửa có lẽ đã bị bắn rớt bởi đạn súng 76 mm của tàu Gary.

Lầu Năm Góc và Chính quyền Reagan sau đó đã phủ nhận cuộc tấn công bằng tên lửa Silkworm đã xảy ra, có thể là để giữ cho tình hình không leo thang hơn nữa -vì họ đã hứa công khai rằng bất kỳ cuộc tấn công nào như vậy sẽ bị đáp trả vào các mục tiêu trên đất Iran- nhắc lại, chiến dịch Bọ Ngựa bắt mồi chỉ nhằm đánh các mục tiêu trên biển, phía Mỹ đã cảnh cáo Iran sẽ không tấn công Iran trên bộ nếu Iran không dùng các căn cứ trên bộ để tấn công hạm đội Mỹ.

Ngừng chiến

Nhận thấy phía Iran bị thất bại hoàn toàn, Hải quân Mỹ quyết định ngừng chiến dịch tấn công, nhằm tạo lối thoát cho Iran, ngay lập tức phía Iran chấp nhận ngừng bắn và bãi bỏ phong tỏa eo biển Hormuz.

Tổn thất của Iran trong cuộc chạm trán ngắn ngủi với Mỹ: 2 giàn khoan dầu bị phá hủy (giàn khoan bị cho là xử dụng cho mục đích tình báo), 3 tàu cao tốc tấn công nhanh Boghammar, một tàu khu trục tên lửa Sahand và một tàu khu trục Joshan bị bắn chìm hoàn toàn, tàu Sabala thì trúng bom laser hoàn toàn mất khả năng chiến đấu.

Phía Mỹ có 2 tổn thất nhân mạng xảy ra khi một máy bay AH-1T Sea Cobra gặp tai nạn trong khi đang bay trinh sát trên biển.

Trận hải chiến của Chiến dịch Bọ Ngựa bắt mồi này là một trong những trận hải chiến lớn nhất của Mỹ sau Thế Chiến II, nó cũng thể hiện sức mạnh vượt trội của Hải quân Mỹ so với các thế lực đối nghịch tại Trung Đông, đặc biệt là đập tan hy vọng ảo tưởng của Hải quân Iran với chiến thuật 'du kích trên biển' mà trước đó Iran thường rêu rao có thể tiêu diệt Hạm đội Mỹ bằng các tàu, ca-nô tốc độ cao áp sát tấn công.

42, tổng hợp.