Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Cái cuốc chim vấy máu.

Tranh giành quyền lực của hai thế lực cộng sản.


Vào buổi tối ngày 20/8/1940, một thanh niên tên Frank Jacson ghé vào một căn nhà lớn vùng ngoại ô thành phố Mexico City của Mexico, căn nhà của ‘Ông cụ’ cái tên mà mọi người dùng cho Leon Trotsky, một người Nga nổi tiếng đang ẩn náu bên trong.

Vài phút sau đó, lưỡi cuốc chim cắm sâu 5 phân vào sọ của Trotsky và trở thành cây cuốc chim nổi tiếng nhất trong vụ giết người có thể làm thay đổi lịch sử cận đại. Mấy hôm sau, chiếc cuốc chim xuất hiện tại buổi họp báo ngắn ngủi của cảnh sát Mexico và rồi sau đó biến mất trong hơn 6 thập niên.

Thế nhưng sang năm tới, chiếc cuốc chim vấy máu này sẽ được mang ra trưng bày cho công chúng tại Viện bảo tàng Gián điệp ở Washington nhân dịp bảo tàng này mở cửa tại một tòa nhà mới để có chỗ trưng bày hàng vạn di vật được tìm lại từ trong bóng tối.

Câu chuyện về chiếc cuốc chim đã bổ vào đầu Trotsky là một câu chuyện phức tạp, ly kỳ và ghê rợn liên quan đến vụ truy sát người được xem là đối thủ của Stalin. Sau buổi họp báo năm 1940, chiếc cuốc chim được cất giữ nhiều năm trong phòng tang chứng sở cảnh sát Mexico City cho đến khi nó được một viên chức cảnh sát mật tên Alfredo Salas ký nhận mang ra, ông ta cho rằng cần bảo tồn tang vật quan trọng này cho hậu thế. Salas qua đời, để lại chiếc cuốc chim cho cô con gái Ana Alicia Salas, bà này cất giấu nó trong 40 năm trước khi quyết định mang ra rao bán vào năm 2005.

Ông Esteban Volkov là người cháu nội của Trotsky sẵn sàng cho máu để thử DNA với điều kiện bà Salas sẽ hiến tặng chiếc cuốc chim này cho nhà lưu niệm Trotsky, là căn nhà cũ ở Mexico City được giữ gìn nguyên vẹn sau vụ truy sát, nhưng bà Salas không chịu: “Tôi muốn có một lợi ích tài chính nào đó. Tôi nghĩ rằng một vật có ý nghĩa lịch sử quan trọng như thế này phải có một cái giá của nó, đúng không?”
Chiếc cuốc chim tang vật. 
Nhà sưu tầm người Mỹ Keith Melton, Florida đã mua chiếc cuốc chim, ông là tác giả nhiều sách về gián điệp và là một trong những người sáng lập Viện bảo tàng Gián điệp Quốc tế ở Washington. Đối với Melton, sở hữu chiếc cuốc chim là một ám ảnh trong đời cuả ông: “Tôi đã mất 40 năm mới tìm ra nó, sau nhiều lần chạy theo đầu mối và nhiều lần thất vọng.” Ông đã hăng hái lần theo những tin đồn, kể cả tin đồn Tổng thống Mexico đã dùng cây cuốc chim để chận giấy tờ, cuối cùng mới lòi ra bà Salas.
Ông Melton không cho biết đã trả cho bà Salas bao nhiêu về cây cuốc chim. Bà Salas trả lời với báo bà không biết gì về chuyện cây cuốc chim đã được bán. Ông Volkov cháu nội Trotsky, trả lời mình chẳng quan tâm số phận nó nữa: “Tôi đã không thử DNA, tôi chẳng liên quan gì đến vụ mua bán của bà ấy, chuyện này chẳng có ý nghiã gì, có thể là súng là dao, ý nghiã của nó chỉ là một vũ khí đã được chọn để gây án, và vụ án cũng được thực hiện một cách vụng về. Có ai dám chắc đó quả thật là cái cuốc chim đã giết ông tôi?”

Nhà sưu tầm Melton nói ông đã xác nhận được chính xác chiếc cuốc chim, từ những phân tích và bằng chứng, những giấy tờ chứng tỏ nó đã được lưu truyền tới bà Salas, thân cuốc chim có dấu khắc của nhà sản xuất Werkgen Fulpmes bên Áo và có cùng kích thước với chiếc cuốc chim được ghi trong báo cáo của cảnh sát (chi tiết này hoàn toàn không công khai ra ngoài công chúng). Trên chiếc cuốc chim còn dấu tay dính máu của hung thủ đúng như dấu vết trong ảnh trưng trong trong buổi họp báo năm 1940.

Melton cũng tin là mình đã giải mã được một trong những bí ẩn của vụ án là tại sao hung thủ có một súng ngắn và một dao găm dài 3 tấc mà không dùng, lại đi xài cây cuốc chim thể thao?

Sau khi Lenin chết, hai người con cưng của cách mạng Nga 1917 – Trotsky và Stalin – giành nhau để thay chỗ Lenin, cuộc tranh giành này chỉ có thể giải quyết bằng cái chết của một trong hai.

Stalin chấp thuận phương án khử Trotsky năm 1939, gồm hai nhóm song song hoạt động. Vụ ám sát thứ nhất là tấn công từ mặt tiền căn nhà, trưởng nhóm là David Alfaro Siqueiros họa sĩ người Mexico chuyên vẽ tranh tường cổ vũ cách mạng vô sản ở Mexico, tự nguyện hợp tác với mật vụ NKVD của Stalin và xem việc thanh toán Trotsky là nghĩa vụ của người cộng sản quốc tế, thế giới đại đồng. Ngày 24/5/1940, Siqueiros và tổ sát thủ giả mặc đồng phục cảnh sát và quân đội, tấn công bằng súng và nã hơn 200 viên đạn vào nhà Trotsky, nhưng ông và bà vợ Natalia không bị gì cả.

Điều này như một phép lạ, nhưng phép lạ đã không kéo dài vì cú ám sát thứ hai đã được tiến hành từ lâu nhằm dự phòng, muốn hiểu vụ thứ nhì ta phải lui về quá khứ một chút.
Năm 1938 tại đại hội những người Trốt-kít được tổ chức ở Paris để lập ra đệ Tứ Quốc tế - Cộng Sản đệ Tứ, cô Sylvia Ageloff người New York, một người ái mộ Trotsky. Tại đây, cô Ageloff được giới thiệu với một thanh niên 25 tuổi tên Jacques Mornard, nhận mình là con của một nhà ngoại giao người Bỉ.

Tên thật anh ta là Ramón Mercader, đảng viên đảng cộng sản Tây Ban Nha, anh có bà mẹ trung thành với Stalin và bà này đã cài anh vào phe Trốtkít với mục đích là tìm cách giết Trotsky.

Cô Ageloff được thuyết phục nên qua Mexico City làm việc cho gia đình Trotsky cùng Mercader, Mercader cũng nói rằng nếu đi cùng cô thì anh ta phải dùng giấy tờ giả để khỏi phải đi nghĩa vụ quân sự, anh kiếm được giấy tờ mang tên Frank Jacson (NKVD đã làm giả hộ chiếu và ghi sai tên anh, đúng ra phải là Jackson)

Cô Ageloff không nghi ngờ gì lời giải thích này và những người cận vệ của Trotsky dần quen với cảnh thường ngày Jacson đưa Ageloff đến khu nhà Trotsky đang sống.

Ngày 20/8/1940 cũng là lần thứ 10 Jacson đưa Ageloff đến khu nhà của Trotsky, nói với đám cận vệ rằng anh có một bài báo định đăng và muốn nhờ Trotsky xem qua trước. Sau cú tấn công bằng súng tự động hồi tháng 5, các biện pháp an ninh đã được tăng cường, muốn vào phòng Trotsky phải qua một cửa thứ nhì có khóa và khóa này được điều khiển bởi người trên một tháp canh. Nếu Mercader muốn thoát thân sau khi giết Trotsky, anh ta phải làm như chẳng có chuyện gì xảy ra thì tháp canh mới mở cửa thứ nhì cho anh ra được.

“Cách duy nhất để giải quyết là phải giết thật êm thấm và đi ra như mọi người khách bình thường, trước khi người ta phát hiện xác chết,”

Trong tình huống như vậy dùng súng sẽ không ổn, còn dao cũng không gì bảo đảm sẽ làm Trotsky gục tại trận mà không gây ồn ào. Theo kinh nghiệm trước đây, NKVD gợi ý cần có một lực cực kỳ vũ bão đánh dứt điểm vào gáy để có một cái chết hoàn toàn im lặng, nhanh và gọn. Để làm được như thế, Mercader đánh cắp chiếc cuốc chim thể thao của người con trai chủ nhà anh ta đang thuê.

Thế nhưng trong thực tế, khi Trotsky ngồi đọc bài báo và bị Mercader bổ chiếc cuốc vào đầu, Trotsky hét lớn và vật lộn với hung thủ cho đến khi cận vệ chạy tới.

Người cháu nội Volkov nhớ lại: “Tôi vẫn còn nhớ khi nhìn qua cánh cửa còn mở, ông tôi nằm dưới sàn, chung quanh đầu là máu, ông thấy tôi và hét "đem thằng bé đi chỗ khác, đùng để nó thấy cảnh này", "quả là một con người đầy nhân bản, giờ phút đó mà ông vẫn còn lo lắng cho tôi.”

Trotsky chết tại bệnh viện khoảng 24 tiếng sau đó, Mercader bị mang ra xử và ở tù gần 20 năm. Trong thời gian ngồi tù, người Soviet đặc trách vụ của anh cung cấp rất đầy đủ những nhu cầu anh cần, mỗi tuần đều gửi tiền tiêu xài, thậm chí còn thu xếp tìm bạn gái, một ngôi sao điện ảnh sắp nổi của Mexico tên Roquella, sau này trở thành vợ anh, theo anh về sống tại Moscow khi ra tù.

Mercader ung thư chết năm 1978 tại Cuba, có Roquella bên cạnh. Những lời cuối của Mercader là: “Lúc nào tôi cũng nghe, tôi nghe tiếng hét, tôi biết ông ta đang chờ tôi ở phía bên kia.”
https://www.theguardian.com/world/2017/sep/13/trotsky-ice-axe-murder-mexico-city?CMP=twt_gu&wpmm=1&wpisrc=nl_daily202

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

Xác của nhà độc tài.

Triển lãm "Xác nhà Độc tài" gây tiếng vang lớn tại Hong Kong

Hình nộm Fidel castro nằm thở thoi thóp cùng với xác vài lãnh tụ cộng sản tập trung tại Hong Kong - một trung tâm của tư bản trên thế giới - trong một chương trình triển lãm táo bạo tại trung tâm Art Basel.

Các bản sao của Mao Trạch Đông, Vladimir Lenin, Kim Il-Sung, Hồ Chí Minh và Fidel Castro đang được trưng bày ở trong trung tâm hội nghị của thành phố, thu hút những người đam mê nghệ thuật và chụp ảnh.

Được làm từ acrylic và silica gel, các xác được khoác lên người những bộ đồng phục đã làm nên "thương hiệu" của họ, tất cả đều nằm trong quan tài bằng kính, ngoại trừ Castro "đang hấp hối" trên giường bệnh (vì lúc hoàn thành bộ sưu tập ông ta vẫn còn sống).

Các hình nộm được tạo ra bởi nghệ sĩ Trung Quốc Shen Shaomin. Shen gọi tên triển lãm của mình là "Dead Dictators" (Nhà Độc tài đã chết). Phòng trưng bày các lãnh tụ độc tài được gọi là "Hội nghị thượng đỉnh" theo cảm hứng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008.

Thoạt đầu nó được dàn dựng cho lễ hội nghệ thuật đương đại Sydney Biennale vào năm 2010 - khi đó Castro vẫn còn sống - nhằm thể hiện ý tưởng là một cuộc gặp tưởng tượng của các nhà độc tài cũ để nhại lại nhóm G8 đã ngừng hoạt động của các quốc gia công nghiệp giàu có.

Shen nói với AFP tại triển lãm Hồng Kông: "lúc này nhiều học giả phương Tây đã trở nên nghi ngờ về chủ nghĩa tư bản, họ đang so sánh và thảo luận các lý thuyết về chủ nghĩa cộng sản, vì vậy tôi đã sáng tạo ra chủ đề 'G5'.

Shen, trong khi vừa nói vừa giỡn nhét chiếc iPhone của mình vào tay Castro: "Người dân của các quốc gia khác nhau, nền văn hoá khác nhau, kinh nghiệm khác nhau có cách giải thích vấn đề theo cách riêng của họ"

Gallerist Agnes Lin, người đại diện cho phòng triển lãm Art Basel, cho biết cô đã lo lắng liệu triển lãm này có được phép ở Hong Kong hay không, nơi Trung Quốc đang thắt chặt sự kìm kẹp của mình. Mao Trạch Đông vẫn là một nhân vật gây tranh cãi ở đại lục và sự xuất hiện của ông tại triển lãm này là rất nhạy cảm!

Mặc dù trên thực tế hình nộm của Mao và các nhà độc tài khác đã được sản xuất ở Bắc Kinh, tại cơ sở của Shen, nhưng theo cô Lin cho biết:
"(Art Basel) thực sự đã cố gắng hết sức để có được cái xác Mao trạch Đông  trưng bày ở nơi này".

"Tôi nghĩ Hong Kong vẫn còn tự do ... chúng tôi vẫn có thể tự do thể hiện tác phẩm này và tôi rất hạnh phúc về điều đó". Ông Shen cho biết ông với một nhóm 7 đến 8 nghệ nhân làm việc trong 6 tháng để tạo ra các hình nộm lãnh tụ sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng hình dạng của các nhà lãnh đạo, thậm chí từ nốt ruồi đến lông và tóc của họ.

Tiernan Breen, 18 tuổi, một sinh viên đến từ Fiji cho biết, "Những hình nộm này kích thích làm cho mọi người muốn tìm hiểu thêm về họ", "Bạn sẽ tự đặt cho mình những câu hỏi mà chắc chắn rằng bạn sẽ không hỏi nếu bạn đã không bao giờ nhìn thấy những cái xác này."

Shen không mong đợi một nhà sưu tập cá nhân nào đó sẽ mua, mà hy vọng tác phẩm của ông sẽ được một viện bảo tàng mua và lưu giữ.

Triển lãm này đã ra mắt công chúng tại Úc, Pháp và Singapore.

http://www.straitstimes.com/lifestyle/arts/dead-dictators-draw-hong-kong-art-crowds

Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

Điện thư.



Hà nội ngày 28 tháng 2 năm 1946.

Tổng thống Hochiminh Việt nam dân chủ cộng hòa Hà nội gởi Tổng thống Hiệp chủng quốc Hoa kỳ Washington DC.

Nhân danh chính phủ Việt nam và nhân dân tôi xin báo cho ngài rằng theo thoả thuận giữa chính phủ VN và đại diện Pháp quy định cuối cùng về rút quân ở Đông dương và sự trở lại của lực lượng Pháp tại Hà nội. Trong lúc này người Pháp và quân đội đang chuẩn bị một cuộc đảo chánh tại Hà nội và quân đội đang lấn chiếm. Do đó tôi rất nghiêm túc khẩn cầu riêng với ngài và với dân chúng Hoa kỳ xin can thiệp ngay lập tức nhằm ủng hộ cho sự độc lập của chúng tôi và giúp tuân thủ những điều khoản của thoả ước Đại tây dương và Cựu kim sơn.

Kính thư. Hochiminh,




























Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

Vụ bê bối Biệt kích-The Green beret affair.

Án mạng thời chiến, vụ thủ tiêu Thái khắc Chuyên.

Giọt nước tràn ly.

Đêm 19/2/1969 trung sỹ Terry McIntosh, thuộc biệt đội A-141 dẫn tiểu đội biệt kích 12 người Thượng đi phục kích, trong đó có Thái khắc Chuyên đi với nhiệm vụ thông dịch viên, theo tin tình báo cung cấp một trung đội vc trang bị vũ khí nặng đang trên đường di chuyển để tấn công Mộc Hóa. Khi trời chớm bình minh, toán phục kích phát hiện du kích tiến ra từ ven bià rừng, tuy không thể chắc chắn bao nhiêu địch quân, nhưng qua ống kính nhìn đêm nhóm vc đúng là đang di chuyển về hướng Mộc Hóa. Trung sỹ Terry lệnh qua Chuyên báo động toàn tiểu đội, mọi người sẵn sàng nằm im chờ lệnh, sau trái M79 của Terry bắn về phiá vc phát nổ tung toé, toàn bộ tiểu đội biệt kích khai hoả với tất cả hoả lực về phía trái M79 vừa rớt xuống.

Phía vc hoàn toàn không bắn trả, qua ống kính nhìn đêm Terry thấy lố nhố bóng vc chạy ngược vào trong rừng cây, Terry đưa ống kính đêm cho Chuyên cùng nhìn, anh ta cầm ống kính quan sát một hồi, Terry nhìn thấy trên môi Chuyên nở nụ cười kỳ quái, tuy lạ nhưng Terry cũng không lưu tâm mấy!

Khi Terry gọi về căn cứ để xin hoả lực pháo binh tiêu diệt địch, máy truyền tin không kiên lạc được, chỉ có tiếng ''rè rè'' trong ống liên hợp. Trung sỹ Terry quyết định truy kích địch cho dù không có pháo binh yểm trợ, toàn bộ tiểu đội tràn lên rượt theo vc vào đến bià rừng, đội hình toán biệt kích trải dài kề nhau và trút hết tất cả hoả lực họ mang theo, bắn đuổi theo những bóng du kích đang rút chạy sâu vào trong bóng tối. Terry nằm giữa với Chuyên bên trái, bên kia là một biệt kích người Thượng, lúc này Terry mới để ý là Chuyên không hề bắn một phát đạn nào, khẩu súng vất nằm lăn lóc kế bên, sau trận đánh khi được hỏi, Chuyên giải thích là súng bị hóc đạn nên không bắn được, Terry nghe vậy rồi cũng không hỏi gì thêm.

Trong khi đó ở căn cứ hoả lực, hạ sỹ Mesa khi thấy hướng tiểu đội biệt kích đi hành quân tiếng súng nổ ran và các vệt lửa đạn văng tứ tung lên trời, biết chắc là toán biệt kích chạm súng với địch, nhưng khi cố liên lạc qua máy truyền tin không được trả lời, đoán là Terry có thể đã chết hay bị thương, Mesa liên lạc với hậu cứ xin chỉ thị. Cùng lúc này, phiá vc tổ chức phản công với hoả lực rất mạnh, toán biệt kích không thể rút về hướng hậu cứ, Terry ra lệnh toàn bộ tiểu đội rút ngược ra khỏi khu bià rừng chặn hướng về Mộc Hóa và tổ chức phòng thủ chờ trời sáng, trong suốt toàn bộ trận đánh Chuyên luôn tỏ ra rất bình thản.

Mesa với hy vọng giải cứu nhóm biệt kích đã cố gắng dùng hoả lực súng cối, bắn vào những toạ độ đánh dấu trước trận phục kích và vài loạt đạn vào rặng cây ven rừng, toán biệt kích nằm im trong bóng đêm lặng lẽ nhìn đạn cối nổ từ xa và súng đạn luôn sẵn sàng nổ vào bất cứ bóng vc nào rút chạy về hướng họ đang phục kích. Sáng hôm sau khi tiểu đội về lại căn cứ hoả lực Mesa phát hiện ra chiếc máy truyền tin của nhóm phục kích bị ai đó vặn chuyển tần số khác!

Chiến dịch Gamma.

Năm 1969, can thiệp của quân đội Mỹ càng ngày càng sâu vào chiến tranh VN trong đó, dưới sự quản lý của Đoàn 5 biệt kích Mỹ, đã có khoảng 80 biệt đội A được thành lập rải rác trên khắp miền Nam, lực lượng mà sau này là những mũi nhọn trong các công tác đặc biệt của cuộc chiến chính thức và không chính thức trong cuộc chiến VN, lực lượng này đã sống, làm việc, hướng dẫn, chiến đấu và thậm chí cùng chết với những chiến binh bản địa. Một trong những nhiệm vụ chính là thu lượm tin tình báo, theo tính toán có hơn 50% tin tình báo hàng ngày trong chiến tranh là đến từ các đơn vị biệt kích.

Nhiều biệt đội thậm chí nắm rõ từng tên tuổi, vùng hoạt động của du kích và khi cần họ lặng lẽ truy lùng và tiêu diệt đối phương. Để bảo mật nhiệm vụ thu thập tin tình báo, một số sứ mệnh, hoạt động bí mật của tình báo sẽ được thành lập và đặt tên mật mã như tất cả các chiến dịch khác, tên của chương trình này được bộ chỉ huy đoàn 5 biệt kích và CIA đặt tên là "chiến dịch Gamma".

Chương trình thu thập tình báo bí mật đơn phương nhắm vào quân đội Bắc Việt và mục tiêu là tiêu diệt các cơ sở của Việt Cộng ở Campuchia, bao gồm cả chính quyền Căm Bốt đang hỗ trợ cho vc. Bản thân chương trình phải rất bí mật vì nó liên quan đến những phản ứng quốc tế nếu bị tiết lộ, hệ quả từ các cuộc ném bom chiến lược B-52 bí mật đã được tiến hành tại biên giới Campuchia vào thời đó nhằm tiêu diệt cơ sở cộng sản. Nếu chương trình này bị phát hiện, những hậu quả về mặt chính trị ở Hoa Kỳ và những nước đồng minh sẽ rất nghiêm trọng.

Các chiến binh biệt kích hoạt động trong chương trình Gamma hoạt động dưới các vỏ bọc dân sự như: chuyên gia chiến tranh tâm lý, xã hội. Các biệt đội A được đặt dọc theo biên giới Campuchia, 5 toán thu thập tin đã xây dưng được 13 mạng lưới tình báo gồm 98 điệp viên dưới các bí danh nhằm cung cấp tin tức.

Mạng lưới tình báo này, vào 10/68 khi tổng kết, đã cung cấp 65% tin tình báo cho biết về thực lực, địa điểm đóng quân của các lực lượng Bắc Việt trên đất Campuchia, hơm 75% nguồn tin như thế về lực lượng Bắc Việt hoạt động trong lãnh thổ VN. Chương trình được đánh giá là thành công và hiệu qủa nhất của Hoa kỳ tại Đông nam á, phiá Bắc Việt đã không hề biết gì về chiến dịch Gamma này. Cho đến đầu năm 1969, Biệt đội B-57 Thạnh Trị, đơn vị quản lý các toán biệt kích A nhận thấy rất nhiều các đầu mối gián điệp quan trọng cung cấp tin tình báo qúy giá ngày càng bị biến mất một cách bí ẩn, theo suy diễn chắc chắn trong nội bộ chương trình có điệp viên hai mang hoạt động cho cộng quân. Chương trình Gamma có thể bị phá hoại hoàn toàn từ tên gián điệp vc nào đó chui vào trong hệ thống của biệt kích.




Thái khắc Chuyên.

Ngày 15/10/1968, Trung sỹ Peter Sands bí danh là Alvin Smith nhận nhiệm sở tại B-41 đóng ở Mộc Hoá (Các biệt đoàn B là đơn vị chỉ huy của những biệt đội A). Một tuần sau, Chuyên xin vào làm thông dịch viên và từ đó Sands và Chuyên thành đôi bạn thân, Sands đồng thời cũng là chỉ huy trực tiếp của Chuyên trong công tác.

(Sinh năm 1938 tại miền Bắc, Thái Khắc Chuyên là con ông Thái Khắc Qui và bà Thái Thị Lục. Năm 1954, gia đình Chuyên di cư vào Nam, do thương nhớ ba đứa con trai và hai đứa con gái còn ở lại miền Bắc nên bà Lục quay về Bắc).

Vì tổn thất trong chiến đấu, nhiều thông dịch viên của các biệt đội A bị chết và bị thương nên cần bổ xung, Thái khắc Chuyên được biệt phái đến B-57 Thạnh Trị nhằm bổ xung chỗ thông dịch viên đang thiếu.

3/3/1969, Sands gởi yêu cầu sưu tra lý lịch với tên Chu Yên Thái Khắc, vài ngày sau báo cáo cho thấy "không có lưu trữ" suy ra lý lịch Chuyên không có vấn đề gì. Tuần sau đó, Chuyên được lăn tay, chụp hình và chính thức nhận mật danh hoạt động SF7-166, làm việc cho CIA. Điều đáng chú ý là Sands đã không hề yêu cầu Chuyên tiến hành thử qua máy nói dối. Thêm nữa, trong khi không hề có ghi chép nào về nghề nghiệp và học vấn nhưng Chuyên nói tiếng Anh lưu loát đến độ mọi người phải ngạc nhiên.

Vào 10/5/1969, trong một trận đột kích vào chiến khu bên kia biên giới Campuchia khu Mỏ Vẹt, biệt kích thu được nhiều tài liệu trong đó có một số hình chụp, sau khi đưa cho Sands nhận diện, xác nhận người trong hình chụp với một nhóm cán binh Việt cộng đúng là Chuyên đứng cạnh một sỹ quan Bắc việt.

Với kết luận Chuyên là gián điệp vc, chỉ huy đơn vị biệt kích ra lệnh thủ tiêu Thái khắc Chuyên, Chuyên bị chích thuốc mê, mang ra ngoài khơi Nha Trang bắn chết, cột niềng xe và thẩy xuống biển phi tang.

Sau cái chết của Chuyên, Sands tự thấy không an toàn nên đã chạy vào trụ sở CIA tố cáo vụ thủ tiêu này. Vụ giết Thái Khắc Chuyên đến tai tướng Abrams, Tư lệnh MACV. Theo luật của quân đội Mỹ, không ai có quyền đơn phương xử tử nghi can nên tướng George Marbry, phụ tá tình báo thừa lệnh Abrams ra quyết định bắt giam những nhân vật chủ chốt và những người liên quan đến vụ Thái Khắc Chuyên, gồm Brumley, Boyle, Marasco, Williams, Middleton, Crew, Ken Facey, Kautson, Wayne Ishimato. Riêng trung sĩ Sands bị bắt và bị dẫn độ về Sài Gòn một mình vì Sands là nhân chứng rất quan trọng. Theo lời khai của Sands, người chủ mưu chính trong vụ giết Thái Khắc Chuyên là đại tá Rheault, Chỉ huy trưởng biệt kích.

Phiên tòa xét xử vụ Thái Khắc Chuyên diễn ra ở căn cứ Long Bình vào tháng 8/1969. Vì thiếu chứng cứ và lý do chính trị, cùng với sự can thiệp của tổng thống Nixon vụ xử đã không tiến hành, các bị can được trả tự do. Liên Xô lợi dụng sự việc nầy phát động chiến dịch tuyên truyền rầm rộ. Đài phát thanh Moscow, Hà Nội tố cáo lực lượng biệt kích Mỹ là những kẻ tâm thần, cướp bóc, các nhóm chống chiến tranh đã nhân vụ này làm rùm beng lên về việc Mỹ can thiệp trong chiến tranh Việt Nam, sau này vụ việc được gọi tên "The Green Beret Affair" tức vụ tai tiếng mũ nồi xanh.

Kết:

Sau 1975, Phan Kim Liên và hai con trai sống trong khó nghèo, cô quạnh ở Sài gòn. Các anh trai của Chuyên kẹt lại Bắc Việt cũng chỉ là dân bình thường của chế độ như bao nhiêu tín đồ Thiên Chúa giáo khác. Vào tháng 8/1991, con trai cả của Thái Khắc Chuyên là Thái Quốc Việt vẫn tin cha mình còn sống, có viết thư cho ký giả J. Stein hỏi về số phận của cha mình và thú nhận: "thật khó sống với những năm tháng dài ngờ vực. . .".

Cho tới hôm nay, không ai biết sự thật của câu chuyện!


Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Vụ án Trịnh vĩnh Bình.


1. Kinh doanh
Ông Trịnh Vĩnh Bình sinh năm 1947 tại Sóc Trăng. Năm 1976, vượt biên qua định cư ở Hoà Lan với hai bàn tay trắng. Ông tiếp tục học và tốt nghiệp đại học. Được báo chí Hoà Lan ca ngợi là một người thành công trong hội nhập, và thành công trong kinh doanh. Báo chí gọi là “Vua chả giò”. Ông tham gia đảng chính trị Dân Chủ Tự Do, là đảng cầm quyền cuối thập niên 1980 ở Hòa Lan.
Đầu năm 1990, TVB tháp tùng đoàn doanh nghiệp Hòa Lan, đến VN thăm dò khả năng đầu tư.
Ông quyết định đóng cửa công ty chả giò ở Hòa Lan, đem 2,328,250 Mỹ kim tiền mặt, và 96 kí vàng về đầu tư ở VN.
Thành lập công ty Tín Thành ở Sài Gòn, xuất cảng nông, thủy sản. Công ty Bình Châu có nhà máy hải sản đông lạnh ở Vũng Tàu. Mua một số nhà đất ở Sài Gòn và BR/VT để phục vụ sản xuất. Xử dụng số vốn rất lớn trên 200 hecta đất ở Bà Rịa để trồng rừng, nghiên cứu việc nuôi tôm.
Xây dựng cơ sở biến chế thủy hải sản xuất cảng, với sản lượng 35% trên tổng số đánh bắt ở BR/VT. Xây khách sạn 10 tầng.
Sau 8 năm thành công trong kinh doanh, tài sản lên tới 6 tỷ đồng VN.

2. Bị bắt
Năm 1996 bị bắt và ra toà năm 1998.
Trịnh Vĩnh Bình trả lời phỏng vấn của đài RFA như sau:
“Công ty tôi có một số anh em cấu kết nhau, ăn cắp một số tiền ước lượng mấy trăm ngàn đô la qua nhiều năm tháng. Sau khi bị phát hiện, họ sợ bị tù tội nên dùng tiền bạc đút lót cho công an địa phương, phòng đó là PA-42, phòng cảnh sát điều tra Vũng Tàu. Đó là giám đốc, phó giám đốc và trưởng phòng tài chánh của tôi, thành một hệ thống ăn cắp. Bên công an nhận hối lộ, tìm cách bao che. Họ ra tay trước. Chụp mũ công ty tôi trốn thuế, khám xét công ty và bắt giam tôi.
Việt kiều về nước không được quyền mua nhà đất, cho nên phải nhờ thân nhân đứng tên. Một số người bà con lật lọng, tráo trở, giật tiền, tôi ở trong trường hợp đó.

3. Lòng tham
Trịnh Vĩnh Bình nói tiếp: “Thấy Việt kiều về nước làm ăn phát đạt nên họ có ý cướp giật. Tôi không quen đút lót, làm ăn chân chính, cho nên trở thành nạn nhân. Ở VN, khi Việt kiều làm ăn phát đạt thì bị chính quyền địa phương gây khó dễ để đòi tiền, đây là vụ án mà tôi bị hàm oan. Qua một thơi gian dài, gia đình tôi, bản thân tôi và một số người binh vực công lý, đã gởi nhiều đơn khiếu nại khắp nơi, nhưng không được cứu xét. Cuối cùng, tôi phải dựa vào Hiệp Ước thương mại giữa VN và Hòa Lan, đưa vụ tranh chấp ra Toà án Quốc Tế thuộc Liên Hiệp Quốc.
Sau một thời gian tại ngoại, tôi rất lo ngại cho mạng sống của mình, có thể bị bắt và bị giết, cho nên tôi phải đào thoát khỏi VN.” (Trả lời phỏng vấn đài RFA)
Thật vậy, thời đó, ngay cả người dân, hễ thấy Việt kiều thì có ý “chặt đẹp” trong việc mua bán bình thường. Một tô bún bò ở chợ An Đông, một trái dừa xiêm bán cho Việt kiều thì giá cao hơn bán cho người trong nước. Một trái dừa là một trái dừa mà giả cả khác nhau tùy theo người mua là ai.

4. Báo chí kết tội.
Xin trích nguyên văn bài báo:
“Trịnh Vĩnh Bình sinh năm 1947 tại Sóc Trăng. Năm 1976 vượt biên qua Hòa Lan.
Tính đến tháng 8 năm 1998, TVB nhập cảnh VN 63 lần, mỗi lần như thế mang theo vàng và đô la, tổng cộng 2,328,250 đô la và 96 kí vàng. Lập công ty Tín Thành mua bán nông hải sản.
Nhờ Trịnh Hiền Thanh chạy lo hộ khẩu cho mẹ vợ là bà Nguyễn Thị Thi, cho các em vợ là Phạm Thị Huệ, Phạm Thị Bé, Phạm Thị Tuyết Hằng về cư ngụ tại hộ, thuộc huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Nhưng có thêm hai hộ khẩu nữa ở thành phố Hồ Chí Minh và tại huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Vợ chồng của đứa cháu gái là Trịnh Mộng Kiều và Triệu Văn Dữ và Trịnh Hiền Thanh cũng có tên trong hộ khẩu ở Vủng Tàu, với mục đích đứng tên mua nhà cửa và bất động sản. TVB nhận đất trồng rừng theo chương trình 327 của chính phủ.
Trịnh Vĩnh Bình nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2,847,745 mét vuông đất.
Năm 1992, TVB chỉ đạo cho nhân viên đưa hối lộ 510 triệu đồng cho Tạ Quang Luyện, cán bộ phụ trách Nhà Đất tỉnh BR-VT.
Ngày 11-12-1998, Tòa Án Nhân Dân BR/VT phạt TVB 13 năm tù giam, nhưng cho Bình được tại ngoại. TVB kháng án. (Tù giam nhưng tại ngoại)
Trong khi TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên xét xử, thì TVB chạy vào nhà thương Chợ Rẫy xin cứu cấp vì cao huyết áp.
Qua chi tiết trong hồ sơ, Tòa phúc thẩm TP/HCM phạt 11 năm tù giam, tịch thu toàn bộ tài sản, tổng cộng 6.1 tỷ đồng và 480 lượng vàng.
Lợi dụng vẫn còn được tại ngoại, TVB bỏ trốn.
Đầu tháng 4 năm 2005, TVB chính thức nạp đơn lên Toà án Quốc tế đòi bồi thường 100 triệu đô la.
Đó không phải là đơn thuần của một vụ kiện tụng, mà có ý đồ gây hoang mang cho những người đã, đang và sẽ đầu tư vào VN. Một luật sư tuyên bố “Trịnh Vĩnh Bình bị tội bỏ trốn, về mặt pháp lý, VN cần phải phát hành lệnh truy nã và yêu cầu dẫn độ TVB về VN thi hành bản án” (Trích)

5. Phản ứng của Hoà Lan
Năm 1996, Trịnh Vĩnh Bình bị bắt giam. Năm 1998 đem ra xử.
Đầu năm 2000, chính phủ Hoà Lan (HL) phổ biến một tập tài liệu 752 trang về vụ án của TVB. Người tích cực vận động cho TVB là GS J.J.C. Voorhoever, là một trong 18 thành viên của Hội đồng Chính phủ Hoà Lan. Cựu Bộ trưởng Quốc Phòng HL, cựu chủ tịch đảng Dân Chủ Tự Do mà TVB là một đảng viên.
- Thủ tướng HL, Wim Kok và Bộ trưởng Ngoại giao Van Aartsen gởi thơ trực tiếp cho Chủ tịch nước Trần Đức Lương yêu cầu giải quyết vụ án TVB. Đồng thời, triệu tập đại sứ CSVN là Đinh Hoàng Thắng đến Bộ Ngoại giao để phản đối.
- Cắt viện trợ phát triển và nhân đạo cho VN.
- Trong năm 2000, có 8 phái đoàn CSVN đến thăm HL. Đã bị tiếp đón lạnh nhạt và bị chất vấn tơi bời về vụ án TVB. Các phái đoàn của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An (QH), Phan Văn Khải, Nguyễn Dy Niên (NG), Nguyễn Đình Bin… đều bị chất vấn và chống đối. Báo chí nổi giận gọi họ là “Những khách không mời mà đến”. Tệ hại hơn nữa, công khai chỉ trích họ là “Những con vẹt chỉ biết nói mà không biết nghe”. Trong khi đó, báo chí VN thì cho rằng các chuyến công du thành công mỹ mãn.
- Bà Margareeth de Boer, Chủ tịch Ủy Ban Ngoại giao Hạ viện HL dẫn đầu một phái đoàn sang VN, trực tiếp gặp Bộ trưởng NG Nguyễn Dy Niên. Bà Boer nhấn mạnh “Vì quyền lợi của hai nước, vụ án TVB phải được giải quyết tức khắc”.
Kết quả, Hoà Lan chỉ nhận được một công hàm của Bộ Ngoại giao CSVN, thông báo với nội dung là “Bắt đúng người, xử đúng tội, áp dụng đúng luật pháp”. Sự khác biệt về quan điểm giữa VN và Hoà Lan đưa đến bế tắc.
CQVN cho rằng, TVB là công dân VN. Vụ án là việc nội bộ, và HL đã xen vào công việc nội bộ của VN.
Trái lại, Hoà Lan coi vụ án là một vi phạm vào Hiệp ước Thương mại mà hai nước đã ký năm 1994. Trong đó bao gồm những khoản cho phép thân nhân trong nước được tham gia dưới hình thức là những công ty con, còn gọi là “đầu tư đội nón”.
Ngày 4-11-2001, tại đại hội đảng bộ Vũng Tàu, trung ương đảng cho rằng vụ Trịnh Vĩnh Bình là một vụ xử sai lầm, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài, vì thế, cấp trên thi hành kỷ luật đảng bộ Vũng Tàu. (Đây là bằng chứng mà TVB nắm lấy)
Ở Hoà Lan, một luận án tiến sĩ đệ nạp tại Đại học Luật Khoa Den Haag, trình bày rõ ràng trường hợp đầu tư của TVB, dựa theo Hiệp Ước Thương mại giữa hai nước VN và HL ký kết năm 1994. Luận án được in thành sách với 3 thứ tiếng, Hoà Lan, Anh và Pháp. Một bản tiếng Việt được phát hành sau đó.
Luận án nêu rõ luật rừng ở VN, sự lộng hành của Công an VN, phép vua thua lệ làng, cuối cùng đưa người đầu tư đến tù tội và bị tịch thu tài sản.

6. Thế giới lên án
Vụ án TVB gây sôi nổi khắp thế giới.
Ngày 28-3-2005, nghị sĩ Jules Maaten, Quốc Hội Liên Âu (EU), từ Brussels cho biết, vụ án TVB đã gây hoang mang trong giới đầu tư ở châu Âu. Vụ án là một tác động tiêu cực đến quan hệ giữa EU và VN.
 
Tháng 6 năm 2005, khi Phan Văn Khải sang thăm Hoa Kỳ, kêu gọi ngoại quốc và người Việt đầu tư vào VN, thì các cơ quan truyền thông đồng loạt loan tin về CQVN âm mưu chiếm đoạt tài sản của Việt kiều Hòa Lan Trịnh Vĩnh Bình. Đài RFA (Mỹ), đài RFI (Pháp), đài BBC (Anh) đều phổ biến bài phỏng vấn ông TVB về trường hợp nạp đơn kiện CQVN tại Toà Án QT đòi bồi thường 100 triệu đô la.

Dư luận nhận thấy đầu tư vào VN là một việc bấp bênh do cái thành tích lật lọng, tráo trở của QVN. Đồng thời nhắc lại những vụ án để làm bằng chứng. Đó là vụ án của Luật sư người Ý Manizio Liberato, kiện sự lật lọng của VNAirlines và phán quyết của Toà án buộc phía VN phải bồi thường 6.5 triệu Đô la cho nguyên cáo. CQVN không chịu bồi thường, tưởng đâu không có ai dám vào VN đòi tiền. Tức thời, Toà án ra phán quyết phong toả tất cả những chương mục của VN Airlines trên toàn châu Âu, và nếu VN không bồi thường, thì một án lịnh cho một ngân hàng xuất triền ra bồi thường cho nguyên cáo Manizio Liberato. CQVN chịu thua.

7. Trịnh Vĩnh Bình vô tội
Ngày 4-12-1996, một thân nhân của TVB là Trịnh Hiền Thanh vu cáo TVB đưa hối lộ, khiến cho TVB bị bắt giam. Việc vu cáo nằm trong âm mưu của công an BR/VT.
Đến ngày 24-6-2002, Trịnh Hiền Thanh thú nhận bằng văn bản là y đã vu cáo cho TVB. Hiền Thanh chết vài năm sau đó do bịnh tiểu đường.
Qua bút phê của Phan Văn Khải cũng là một bằng chứng cụ thể TVB không có tội. Qua lời phát biểu của bà Nguyễn Thị Bình, Phó chủ tịch nước, tại QH và qua Trung Ương đảng tuyên bố thi hành kỷ luật đảng bộ Vủng Tàu và qua lời xác nhận của Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên với các quan chức Hoà Lan, là vụ án có nhiều sai trái. Tất cả đều chứng tỏ TVB vô tội. Đó là những bằng chứng mà TVB sẽ xử dụng tại Tòa án QT, để chứng minh rằng mình vô tội, và đòi bồi thường 100 triệu USD.

8. Vụ án kinh tế biến thành chính trị
Phòng cảnh sát điều tra PA24 do trung tá Ngô Chí Đan làm trưởng phòng, đã nhận hối lộ và cũng thừa cơ hội đó, thực hiện âm mưu cướp tài sản của TVB. Thế lực của Ngô Chí Đan rất mạnh, và có ô dù ở trên bao che, cho nên thường tống tiền các doanh nhân, cụ thể là trong vụ án Phương Vicarrent, đã tống tiền 100,000 đô la . Ngô Chí Đan bị cách chức, tước danh hiệu Công an nhân dân.
 
Trung tá Ngô Chí Đan và anh vợ là Phạm Văn Phương đã trở thành 2 “ông trùm” ở địa phương. Vì TVB không biết luật giang hồ ở BR/VT, đã không “thần phục”, không làm lễ ra mắt ông trùm, không “cống nạp”, cho nên đã trở thành nạn nhân, bị tù và tịch thu tài sản.
 
Trong xã hội VN, làm ăn lương thiện thì bị nạn là thế. Cũng đừng ỷ lại vào việc cống nạp cho cấp trên là đủ. Phải nhớ qui luật, phép vua thua lệ làng mới tồn tại an toàn được.
 
Trung tá Ngô Chí Đan là đàn em của Thứ trưởng CA Nguyễn Khánh Toàn, ngoài ra, từ Tổng bí thư đảng cho đến những chức vụ lãnh đạo, Ngô Chí Đan quen lớn trên vài chục người.
 
Một bí mật ít người biết đến là, khi một Việt kiều về nước đầu tư, làm ăn, đều bị bí mật giám sát chặt chẽ của an ninh CS. Ban đầu chỉ là một vụ có mục đích tống tiền, xét công ty và nhà để lấy vàng và tiền mặt, nhưng vì áp lực bên trên khá mạnh, cho nên vụ án kinh tế đã biến thành vụ án chính trị.
 
Bắt đầu, TVB là một đảng viên của đảng Dân Chủ Tự Do của Hoà Lan, do đó, TVB bị ghép vào tội làm gián điệp. Những bằng chứng được ngụy tạo, kế hoạch được dàn dựng, khiến cho những người cho rằng TVB vô tội như Phan Văn Khải, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Dy Niên, Nguyễn Mạnh Cầm đều lạnh cẳng, thụt lùi.
 
Những chứng cớ được ngụy tạo như việc TVB đã gặp Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch UBND tỉnh BR/VT Nguyễn Trọng Minh, để móc nối, lôi kéo, mua chuộc làm gián điệp. Thật sự, có việc gặp gỡ, đưa tiền, nhưng đó không phải là gián điệp, mà là một hình thức “bôi trơn” phong bì để làm ăn dễ dàng. Nhưng rất tiếc là TVB không biết bôi trơn ở địa phương, cho nên mới ra nông nỗi. Bị nắm tẩy, cho nên Phan Văn Khải không dám tiếp tục can thiệp nữa. Trong vụ TVB, Nguyễn Trọng Minh bị mất chức Chủ tịch UBND tỉnh BR/VT.

9. Bí mật bao trùm quanh vụ đào thoát
Bí mật bao trùm chung quanh việc TVB đào thoát khỏi VN. Một người bị kết án 11 năm tù giam mà làm thế nào để lên phi cơ bay về Hoà Lan cho được?

Mới đây, ngày 7-4-2011, Trưởng cục thi hành án dân sự tỉnh BR/VT tên Trần Văn Mười cùng 2 tên Lê Huy Hoàng và Hoàng Anh Linh bị bắt giam về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Ba người bị bắt đã vi phạm nghiêm trọng trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình “dẫn đến việc khiếu kiện lâu dài”.
Nhóm từ “Dẫn đến khiếu kiện lâu dài” có thể hiểu là gồm cả việc để cho TVB đào thoát mới có khiếu kiện lâu dài. Bài báo không nêu đích danh lý do nào khiến cho 3 người bị bắt, nhưng đã nêu một trường hợp tương tự là 3 người đã ngâm bản án hơn 2 năm, không thi hành phán quyết của toà án. Cũng tương tự như TVB bị kếu án 13 năm tù giam mà vẫn nằm nhà thoải mái.
 
Thế nhưng cũng có điều lạ khó hiểu, là tại sao vụ việc xảy ra từ 1998 cho đến nay là 13 năm, 3 đương sự mới bị bắt?

10. Kiện ra Toà Quốc Tế
Ngày 15-10-2003, vụ án bước sang giai đoạn mới, vượt ra khỏi phạm vi hai nước VN và HL, ông Trịnh Vĩnh Bình đã chính thức nhờ Tổ hợp Luật sư Covington Burling, có trụ sở ở Anh và Hoa Kỳ, đứng ra kiện nhà cầm quyền VN đòi bồi thường 100 triệu đô la Mỹ, trong khi số vốn đầu tư mang về VN khoảng 4 triệu.
Phụ trách vụ án, Tổ hợp Covington Burling có 1 luật sư đứng tòa, 3 luật sư lo hồ sơ, 2 thông dịch viên, 2 thư ký. Riêng TVB có một luật sư VN phụ trách liên lạc giữa TVB với Tổ hợp luật sư Mỹ. Ông TVB ký quỹ 150 ngàn USD.

Đầu tiên, luật sư Thomas Johnson, đại diện cho TVB gởi thơ cho Viện trưởng Viện Kiểm Sát ND Tối Cao VN là Hà Minh Trí, đề nghị dàn xếp giữa hai bên.
Nổ lực dàn xếp kéo dài gần 2 năm không có kết quả.
 
Tháng 5 năm 2004, TVB chính thức nạp đơn lên Toà Án QT thuộc Liên Hiệp Quốc. Toà án thụ lý và sẽ mở phiên tòa xét xử tại Stockholm, Thủ đô Thụy Điển vào cuối năm 2005. Tòa nầy gồm 3 thẩm phán, một người Thụy Điển, một người gốc Mỹ và một gốc Pháp.
 
Phía CSVN, cũng đã ký quỹ 150 ngàn USD để nhờ Tổ hợp luật sư Pháp Glide Loyrette Rouel, có văn phòng tại Hà Nội. Việc nầy chứng tỏ CSVN chấp nhận việc bồi thường 100 triệu USD cho TVB, nếu bị thua kiện.
Toà Án QT thông báo sẽ mở ra xét xử từ ngày 4-12-2005 đến 12-12-2005.
Ba tuần lễ trước phiên xử, Tổ hợp luật sư Mỹ thấy chắc ăn, cho nên tăng số tiền đòi bồi thường lên thành 150 triệu USD. Viện dẫn lý do là dựa theo thời giá mới.

Tham dự phiên toà
VN là bị cáo, nếu không tham dự phiên toà thì bị mất quyền tự bào chữa. Nếu vắng mặt thì bị xử khiếm diện và buộc phải tuân theo phán quyết của toà án.
Do kinh nghiệm lần trước, vụ một luật sư người Ý, ông Manizio Liberato kiện hảng hàng không VNAirlines, phía VN thua kiện mà không chịu bồi thường, tưởng rằng không có ai dám vào VN đòi tiền, cho nên tất cả các chương mục của VNAirlines ở các ngân hàng châu Âu bị phong toả để trả tiền bồi thường.

Toà Án Quốc Tế tạm hoãn.
Đáng lẽ Toà sẽ mở phiên xử từ ngày 4-12-2005 đến 12-12-2005, nhưng Toà tuyên bố tạm hoãn, vì lý do hai bên thỏa thuận dàn xếp bên ngoài Tòa.

Thế mạnh của Trịnh Vĩnh Bình
Đúng thời cơ
Đó là cuối năm 2006, VN có thể được gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới (World Trade Organization=WTO) là cơ hội để được tham gia vào sinh hoạt của nền Kinh tế Thị trường tự do của chế độ tư bản. Vì kinh tế quốc doanh XHCN không ai muốn giao dịch và bị tư bản chèn ép về tội bán phá giá. Từ đó, VN sẽ có điều kiện dễ dàng ký những Hiệp ước thương mại với các quốc gia khác, mà VN rất muốn mở cửa, hội nhập.
VN rất cần có nguồn vốn, cho nên kêu gọi ngoại quốc đầu tư do đó, phải từ bỏ bớt thói quen ngang tàng bướng bỉnh cố hữu. Đành phải chịu nhượng bộ, đó là thời cơ thuận lợi cho vụ án của TVB.

Trịnh Vĩnh Bình vô tội
Chính những văn bản và tài liệu chính thức của các quan chức VN đã xác nhận TVB vô tội. Cụ thể là bút phê của Thủ tướng Khải. Chính Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên thừa nhận với quan chức Hòa Lan “Có sự sai sót trong vụ án TVB và hứa sẽ yêu cầu các cơ quan chức năng điều tra lại”.
CQVN muốn dàn xếp bên ngoài Toà án, vì ở đó, số tiền bồi thường có thể được giữ bí mật. Hơn nữa, bị Toà án xử có tội, và ra lịnh phạt tiền bồi thường thì mất mặt quá. VN muốn còn chút đỉnh thể diện để mạnh dạn kêu gọi hùn hạp làm ăn. Nếu bản án được loan truyền khắp thế giới thì còn mặt mũi gì nữa.

Kết:
Ông Trịnh Vĩnh Bình đã giữ lời hứa với nhà cầm quyền VN là không tiết lộ số tiền mà VN bồi thường.

Trúc Giang
Minnesota ngày 28-11-2011

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Đẹp, nguy hiểm.


Tổng cộng chiến công trong tấm hình này là 775 mạng địch quân đã bị bắn chết bởi những người đẹp cuả Lữ đoàn 3 xung kích, Phương diện quân thứ Nhất - Belarussia (số địch quân đã được kiểm chứng đúng).

Hàng đầu từ trái qua,
Trung sỹ nhất VN Stepanov, bắn chết 20. Trung sỹ JP Belousov, bắn chết 80. Trung sỹ AE Vinogradov, bắn chết 83.

Hàng thứ nhì,
Thượng sỹ EK Zhibovskaya, bắn chết 24. Trung sỹ KF Marinkin, bắn chết 79. Trung sỹ OS Marenkina, bắn chết 70.

Hàng thứ ba,
Thượng sỹ NP Belobrova, bắn hạ 70. Thượng sỹ N. Lobkovsky, bắn chết 89. Thượng sỹ VI Artamonov, bắn chết 89. Trung sỹ nhất MG Zubchenko, bắn hạ 83.

Hàng thứ tư,
Trung sỹ NP Obukhov, bắn chết 64. Trung sỹ AR Belyakov, bắn hạ 24 địch.
Ảnh chụp ở Đức, ngày 4 tháng 5 năm 1945.


Các nữ xạ thủ bắn tỉa của Lữ đoàn 3 xung kích, thuộc phương diện quân 1/ Belorussian. Lữ đoàn xung kích được tổ chức với mục tiêu cụ thể là mũi nhọn tấn công và tiêu diệt các lực lượng địch quan trọng, khi cần thiết có thể được ưu tiên tăng cường với cả xe tăng và pháo binh hơn các đơn vị vũ trang khác.

Trở ngại trong việc tìm đủ số quân nhân nam giới phục vụ trong quân đội và công nghệ, nhà nước Xôviết đã tuyển mộ 7,75 triệu nữ giới, trong đó có 800,000 người phục vụ trong quân đội. Bắn tỉa là công việc cần sự chính xác tỉ mỉ, rất hợp với kỹ năng của nữ giới. Vào năm 1943 đã có hơn 2,000 tay súng bắn tỉa nữ trong lực lượng vũ trang Liên Xô, những tay súng bắn tỉa nữ đã được ghi nhận với hơn 12.000 xác địch quân bị giết.

Liên bang Xô viết đã sử dụng phụ nữ trong bắn tỉa rất nhiều, quân đội Sôviết đã nhận ra phụ nữ rất hợp với nhiệm vụ bắn tỉa, tính kiên nhẫn, cẩn thận, kiên định, luôn tránh lộ diện đối đầu trực tiếp, cơ thể chịu đựng được nhiều điều kiện khó khăn. Thần kinh và kỹ năng của phụ nữ rất hợp chuẩn cho sự chính xác trong việc bắn tỉa. Thiếu tướng Morozov, "cha đẻ của chương trình bắn tỉa" đã từng nhận xét: ''bàn tay phụ nữ nhạy cảm hơn nam giới, vì thế khi bóp cò ngón tay trỏ của cô ta sẽ bắn nhạy hơn và chính xác hơn''.


Việc sử dụng lực lượng bắn tỉa thành công nhất của Liên Xô trong Thế chiến II là trong giai đoạn phòng thủ của chiến tranh (1941-1943), sau khi Liên xô phản công, lợi thế đã chuyển sang phía Đức và các tay súng bắn tỉa của Đức đã trở thành mối nguy thực sự đối với các đơn vị quân Liên Xô trên đà phản công.

Theo học thuyết quân sự của Liên Xô, họ sử dụng những tay bắn tỉa để dùng như hoả lực đe doạ từ xa, và tiêu diệt mục tiêu khi có cơ hội, đặc biệt là các sỹ quan, bởi vì trong Thế chiến II, các nhà lãnh đạo quân sự Liên Xô nhận ra rằng địch sẽ gặp khó khăn trong việc thay thế các sĩ quan trong thời chiến. Họ cũng phát hiện ra rằng chi phí cho một khẩu súng trường bắn tỉa đắt tiền và dễ hư hỏng thì cũng bằng với chi phí đào tạo một chiến binh huấn luyện kỹ lưỡng và trang bị một khẩu súng trường tấn công sản xuất hằng loạt giá rẻ, họ đã bám theo học thuyết này. (Điều này dẫn đến việc Đức vượt hơn Liên xô về bắn tỉa trong phần cuối cuộc chiến)

42, Chuyển ngữ từ Rare Historical Photos.


Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Tình vụn.

Chiều nay bất ngờ nhìn thấy một phụ nữ trung niên người Ấn đang chờ đèn để sang đường trên đất Mỹ, chợt chạnh lòng nhớ lại chút tình vương vấn ở Tây ninh thời trai trẻ.

Bọn tôi, những thằng lính trẻ lãnh lương ra chỉ huy hoàng được tối đa là một tuần, ba tuần còn lại là thê lương với ăn thiếu nợ, ký sổ. Lương lính ra khỏi bàn phát lương là hết, bọn chủ nợ chờ ngay ngoài cửa phòng lương, số tiền ít ỏi còn lại chỉ đủ cho vài ngày huy hoàng, rồi lại tiếp tục rơi vào vòng nợ nần-ký sổ.

Đấy là nói nếu ở hậu cứ, bọn câu lạc bộ biết mình mới cho ăn thiếu, còn đi công tác dân bỏn biết chúng tôi là ai mà cho nợ nần? Thế, bọn tôi phải tự cứu mình, toán đi thường 4 thằng, chia nhau ra đi đến đâu là phải tìm cách cua gái kiếm ăn, đừng nghĩ bọn trai trẻ chúng tôi vô tình, yêu cũng thật đấy, nhưng đói thì cấp thiết hơn nhiều, hí hí

Tôi quen em cũng trong dịp tình cờ, nhà em là tiệm bán tạp hoá ngay dưới chân cầu của con kinh cắt ngang giữa lòng thị trấn, bên con lộ chính của thành phố, đầu dãy nhà buôn dọc theo con phố chính, phiá hông nhà em là con đường hẻm dọc kinh dẫn vào khu động đĩ mà bọn kính tráng hay lui tới. Hôm đó tôi cần mua cục xà bông thơm cô Ba nên ghé vào mua, thả dê, tán tỉnh và thế là dính!

Em tên Nê, chả biết tiếng Ấn nghĩa gì, nhưng nghe chẳng có tý ấn tượng! người gầy ngẳng đen và hơi ngố, chắc ông bà già giữ kỹ quá nên ít tiếp xúc với người ngoài. Khuôn mặt điển hình của Ấn với đôi mắt sâu lông mày rậm và đen nháy, mũi cao quá nên nhìn hơi dữ tuy rằng em hiền khô. Em chỉ có mỗi dáng cao quá khổ là hơi khác bọn gái Việt, còn lại thì em đặc kiểu miền Nam, chẳng khác gì bọn gái mà tôi chọc ghẹo hằng ngày, hàng họ cũng đâu ra đấy.

Chắc vì bị giữ kỹ quá, khi tôi thả dê là em đổ liền, nhà em ngay bờ kinh nên hẹn hò cũng dễ, căn nhà hai mặt tiền nên mặt dọc bờ kinh có cửa phụ, cứ thế em lẻn ra và bọn tôi tà tà dọc bờ kinh với những hàng quán bán đêm, em lúc nào cũng cả nắm tiền trong túi cầm theo chi trả, không bao giờ để tôi lo lắng vấn đề chi tiêu, hí hí

Tôi lâu cũng ghé tiệm em ban ngày, thấy ông già Ấn đứng bán hàng là biến, nếu em đứng quầy, ghé vào thế nào cũng một mớ nhu yếu phẩm gói mang về, bọn tôi xài kem đánh răng, xà bông, thuốc hút thoải mái. Những lúc đói, nháy em là em chỉ ra ki ốt bánh mì đầu cầu, nơi em đã bảo kê cho tôi. Cạnh những khu vực bến xe trong Nam luôn có những quầy bánh mì mà ổ to như bắp đùi, gọi là bánh mì bến xe, ai trong Nam đều biết. Một ổ bánh mì bến xe nhồi thịt, phải hai thằng ăn khoẻ mới ăn hết, tôi có tiêu chuẩn muốn nhiêu lấy nhiêu, chủ ki ốt không hỏi!

Cho đến một hôm, em buồn buồn thông báo làm tôi cũng lo, ông già em nghi ngờ, chắc sẽ khó khăn cho hẹn hò. Tuy vậy, cấm đoán thế nào thì cấm, bằng cách nào đó em vẫn trốn ra đi chơi, ăn uống hẹn hò và mang nhu yếu phẩm tiếp tế cho tôi.

Cuộc tình chấm dứt đột ngột giống như nó đến! Giải phóng, chúng tôi thế là bặt tin nhau, để giờ đây chiều hôm qua chợt thấy một bà sồn sồn người Ấn đứng chờ sang đường ở góc ngã tư, chạnh nhớ em giờ trôi nổi phương nào?

42.