Thứ Ba, 15 tháng 1, 2019

Đoàn văn Toại

Đoàn Văn Toại,
Sinh năm 1945 tại Vĩnh Long, thời sinh viên là phó chủ tịch Tổng hội Sinh viên Đại học Sài Gòn, có khuynh hướng thân cộng, năm 1971 ông đã đi Mỹ đến các đại học trong đó có Đại học Berkeley và Stanford để kêu gọi sinh viên phản chiến ủng hộ quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam bằng cách đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam vì thế ông bị chính quyền Sài Gòn bắt giam nhiều lần. Sau khi tốt nghiệp, ông vào làm tại một ngân hàng cho đến 4/75.

Sau khi MTGPMN làm chủ Sài gòn, ông trở thành cán bộ của Ban tài chính dưới thời Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam mới được thành lập. Không lâu sau đó ông bất đồng ý kiến về các chính sách kinh tế của các cán bộ cấp trên, ông từ chức và sau đó bị bắt giam 28 tháng.

Được thả, ông được đi đoàn tụ gia đình -vợ ông có quốc tịch Pháp và đã được hồi hương năm 1977- với hy vọng ông sẽ nói tốt cho chế độ khi đó đang bị thế giới lên án vì chính sách cai trị hà khắc, ông đã không làm như ý lãnh đạo Hà Nội. Sau khi đến Pháp, ngày 30/5/1978 ông tổ chức họp báo và công bố “Tuyên ngôn Nhân quyền cho Việt Nam” được một số trí thức ký tên, cuối năm đó ông qua Mỹ cũng có họp báo, gặp gỡ nhiều dân cử Quốc hội Hoa Kỳ, đến nói chuyện tại nhiều đại học về tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam.

Lần trở lại Đại học Berkeley năm 1979, theo lời mời của Viện Nghiên cứu Đông Á (Institute of East Asian Studies) dưới sự điều hành của Giáo sư Robert Scalapino, ông đã gặp bà Laola Hironaka là trưởng nhóm Ân xá Quốc tế (Amnesty International - Campus Network). Qua bà Hironaka và Ginetta Sagan, ông và nhà thơ Nguyễn Hữu Hiệu gặp ca sĩ phản chiến Joan Baez và đã kể ra nhiều sự thật khiến bà tỉnh ngộ.

Sau khi biết đến những trại học tập cải tạo giam giữ hàng trăm nghìn người, những nhà tù giam văn nghệ sĩ, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, Joan Baez đã vận động cả trăm trí thức, nghệ sĩ ký tên vào một thư ngỏ lên tiếng về hồ sơ nhân quyền của Hà Nội. Lá thư được đăng trên các báo lớn tại Hoa Kỳ cuối tháng 5/1979.

Chống nhà cầm quyền Cộng sản nhưng ông có cùng quan điểm với Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ Chính Trị vừa trốn sang Trung Quốc và Trương Như Tảng, cựu bộ trưởng tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mới vượt biển đến Pháp, cùng với Thái Quang Trung là những người có khuynh hướng thân Trung Hoa chống lại Việt Nam, vì thế ông bị nhiều người Việt hải ngoại phản đối, bị nghi ngờ là cộng sản nằm vùng, là người của CIA.

Trở lại miền Đông nước Mỹ, Đoàn Văn Toại cùng với Nguyễn Hữu Hiệu thành lập Ủy ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính trị tại Việt nam và đã xuất bản tập thơ “Tiếng vọng từ đáy vực” của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, mà khi đó danh tính của nhà thơ còn được giữ kín. Những hoạt động của Đoàn Văn Toại được chính giới Mỹ chú ý và ủng hộ. Ông viết những bài báo về hiện tình Việt Nam đăng trên Wall Street Journal, New York Times và làm việc nghiên cứu tại Fletcher School of Law and Diplomacy, Đại học Tuft ở Boston; Institute of East Asian Studies, Đại học Berkeley ở California.

Ông đã cho ra đời 3 tác phẩm về Việt Nam, viết chung với David Chanoff, là: “The Vietnamese goulag”, nguyên bản tiếng Pháp “Le goulag Vietnamien” xuất bản năm 1979; “Vietnam : A Portrait of its People at War” và “Portrait of the Enemy”.

Những năm cuối thập niên 1980 đầu 1990, khi thế giới có những thay đổi và khối cộng sản đang tan rã, Đoàn Văn Toại thành lập Institute for Democracy in Vietnam -Viện Vận động Dân chủ cho Việt Nam- qua đó ông thúc đẩy Washington thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội và công khai lên tiếng cổ võ cho quan điểm của mình vì tin rằng giúp Việt Nam phát triển kinh tế sẽ đưa đến thay đổi chính trị.

Ông cũng lên tiếng chỉ trích Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam của Tướng Hoàng Cơ Minh, lúc đó đang quyên tiền cho phong trào kháng chiến mà ông cho là lừa gạt.

Trung tuần tháng 8/1989 tại Fresno, California ông bị kẻ lạ mặt bắn ba phát làm bể hàm, lủng ruột nhưng ông chỉ bị thương nặng và thoát chết. Thủ phạm tẩu thoát và cho đến nay cũng không tìm được, dư luận đồn đoán là Mặt trận của Tướng Hoàng Cơ Minh đứng sau vụ ám sát, sau vụ ám sát ông không còn coi Hoa Kỳ là nơi an toàn nên đã về Việt Nam làm ăn và sống trong im lặng nhiều năm.

Tên ông cũng đã đổi để ít gây chú ý, trên mạng xã hội Facebook có ghi Prof. Patrick T Doan, Ph. D kèm với chức danh Founder, Bristol University, California và Emeritus Chancellor, California Southern University -những đại học tư này đã cấp bằng tốt nghiệp cho một số người Việt và gần đây tạo dư luận ồn ào trong nước khi nhắc đến bằng cấp của các quan chức cũng như về phẩm chất và giáo trình-.

Năm 1991, nhân danh giám đốc Institute for Democracy in Vietnam, ông đề nghị Hoa Kỳ thuê cảng Cam Ranh của Việt Nam -khi mà Philippines tỏ ý không muốn cho Mỹ thuê Subic Bay- để giúp Việt Nam thoát nghèo và sẽ đưa đến thay đổi chế độ mang bản chất Stalin sang tự do. Ông cũng từng đưa ra đề nghị Hoa Kỳ trả 5 nghìn đôla cho mỗi H.O. để họ ở lại Việt Nam sinh sống thay vì qua Mỹ định cư.

Ông trở lại Mỹ thời gian ngắn trước khi mất tại California ngày 26/11/2017.

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Chuyện Biệt kích: Núi Bà Đen 3/4

Tường thuật của nhóm tiếp vận truyền tin:

Đúng 21:45 ngoại trừ những người trực máy, các người còn lại đang tụ họp coi TV thì một tiếng nổ chát chúa của B40 ở phía Đông vòng đai  phòng thủ, Trung sỹ Gilbert chỉ huy nhóm cùng hạ sỹ Kelly mang theo máy truyền tin PRC25 tức tốc chạy ra phía hầm phòng thủ để lại trung sỹ  Holguin trực máy và trung sỹ Hager gác cửa, ngay khi vừa đụng đến khẩu đại liên thì hàng loại đạn AK bắn tung toé vào lỗ châu mai, Kelly lùi lại ra phía cửa sau của hầm đúng lúc nhìn thấy nhóm người cởi trần đang chạy vượt qua, mới đầu vì tối trời anh tưởng lính Mỹ, nhưng khi một trong số đó vượt qua với cây B40 trên vai, anh chắc chắn không phải lính Mỹ mà là những cán binh Vc đang tràn qua.

Một trái cối nổ ngay trên nóc hầm làm một người biệt kích Thượng bị thương nhẹ, Gillbert ra lệnh toàn nhóm ra khỏi hầm chiếm vị trí phía trước công sự và bắn về hướng vách đá mà nhóm Vc vừa khuất vào, cùng lúc đó căn hầm lãnh thêm 3 trái B40 bốc cháy, nhóm Vc tiến thẳng lên đỉnh chỗ ngôi Chùa.

Căn hầm bốc cháy rực sáng, cả nhóm rút xuôi theo vách núi khoảng 20m và nằm phục trên các tảng đá, sau khi liên lạc vô tuyến với nhóm Red Horse (nhóm tiếp vận truyền tin cho không quân) xác định vị trí, nhóm từ từ di chuyển về hướng của nhóm Red Horse đang phòng ngự, đang trên đường di chuyển, từng tiếng nổ dữ dội vọng về từ ngôi Chùa, Vc đang đánh bộc phá ngôi Chùa, tất cả chìm trong bóng tối.

Trên đường di chuyển Gillbert và Kelly rẽ về ngôi nhà truyền tin tìm Holguin và Hager, căn nhà bị trúng pháo vào bình ga Butan và căn nhà đang bốc cháy rừng rực, cho là 2 chiến binh đã chết cả nhóm tiếp tục di chuyển về phía nhóm Red Horse.

Sau khi tìm đến được với nhóm Red Horse, trong một khe đá lớn gồm khoảng 20 người nhưng chỉ có 4 khẩu súng, Gillbert sắp xếp phòng thủ, mọi người nín thở chờ đợi và núp kín trong hốc đá.

Về phần trung sỹ Holguin, sau khi Gilbert và hạ sỹ Kelly phóng ra khỏi phòng truyền tin, Holguin tiếp tục ở lại cùng Hager báo cáo tình trạng về bộ chỉ huy đồng thời tìm cách liên lạc với các nhóm khác trên núi, sau nhiều cố gắng mà không có nhóm nào trả lời, hai người lính biết rằng họ là những người cuối cùng còn trong khu căn cứ, một trái B40 bắn trúng bình ga Butan bên hông nhà, cú nổ làm toàn bộ hệ thống liên lạc tắt ngóm, góc nhà bắt lửa bùng lên Holguin và Hager chộp lấy súng và phóng ra khỏi căn nhà truyền tin, hai người vừa thoát ra khỏi cửa thì thêm 2 trái cối rớt vào thổi bật tung mái nhà lên không trung.

Hai người trực chỉ các khe đá gần đó phóng đến mặc cho tiếng đạn bắn rượt theo chát chúa trên khắp mặt đá, mảnh đạn cối rớt nóng hổi như mưa chung quanh, luồn sâu vào các khe đá họ nghe được tiếng Vc hô hoán phía trên, không một tiếng Mỹ nào vọng xuống, qua khe đá từ phản chiếu của căn nhà đang cháy rừng rực 2 chiến binh thấy thấp thoáng bóng Vc chạy qua lại, vì họ đang ở trong một hốc đá cạn và không muốn lãnh một trái lựu đạn để thành đống thịt nát bấy, 2 chiến binh cố thu nhỏ người lại đồng thời gạt bỏ ý định bắn vào nhóm Vc, họ trải qua đêm chờ trời sáng với tiếng nổ ầm ĩ chung quanh không dứt.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Tao Ngộ 23: Hai ông giáo sư đại học.

Số 4 Phan Đăng Lưu.
Khoảng giữa năm 76 phòng tôi có một tù nhân đặc biệt, người Hà nội chính gốc -phải nói rõ rằng, thời điểm này những "người Bắc" là loại công dân hạng chiếu trên, mà người Hà nội lại là giáo viên dạy đại học nữa, không ai trong bọn tù chúng tôi có thể tưởng tượng được cơ hội gặp họ trong tù cả, người Bắc thời này là người chiến thắng, họ không bắt bọn tôi thì thôi, ai lại bắt được họ vào tù- thế mà ông giáo viên này lại đang ngồi gãi ghẻ với tôi trong này.

À, dạy đại học trong Nam gọi là giáo sư, nhưng ông giáo viên này không chịu, nói rằng miền Bắc chỉ gọi là 'giáo viên' cho dù ông ấy dạy đại học.

Ông tên Hưng, người gầy cao, dáng thanh mảnh, bàn tay thuôn ngón tay nhỏ dài rõ ra là người ít lao động, chỉ có điều nét lém lỉnh như trùm lên khuôn mặt phảng phất trí thức của ông, ông khoảng trên dưới 40 còn rất nhanh nhẹn, là giáo viên của đại học tổng hợp Hà nội, ông bị bắt vì tội vào Nam buôn TV tủ lạnh ra Bắc, đó là theo lời ông kể -hình như nhà nước cấm buôn bán mấy thứ này ra Bắc thì phải?- ông vào tù dạng 'con bà phước' nên đói dài dài, không thấy ông nhắc nhiều về gia đình ngoài Bắc. Ông rất giỏi tiếng Quan Thoại do du học tại Trung Hoa, tôi học một mớ từ đối thoại bằng tiếng Quan thoại cũng từ ông dạy.

Do là con bà phước không ai thăm nuôi nên đói, suốt ngày ông ngồi kể về các món ăn, ông kể khi dạy đại học, cha mẹ sinh viên mang biếu ông cả cỗ lòng heo, bọn tù tụi tôi chưng hửng hỏi ông sao kỳ vậy, ông giải thích mãi chúng tôi mới từ từ hiểu ra do điều kiện thiếu thốn, đói kém ngoài Bắc nên việc biếu một giáo sư đại học cỗ lòng heo là cả một sự kính trọng?! Chuyện này hơi lạ với đám miền Nam chúng tôi, rồi từ những chuyện kể về Hà nội của ông, tôi mới biết về cuộc sống trong khu tập thể đến việc ăn gà bằng kéo và phải thủ tiêu sau khi ăng uống, lại thêm chút lạ lùng về xứ sở chỉ nghe mà chưa thấy, ông cũng kể về nhiều loại đồ ăn mà tôi đến giờ cũng không còn nhớ nhưng hoàn toàn lạ lẫm với tôi.

Từ ngày ông chuyển trại, nay đã hơn 40 năm tôi chưa một lần nghe tin về ông.

Nằm kế tôi là một giáo sư triết học tại đại học Vạn Hạnh, ông tên Giàu người Huế. Ông người tầm thước hơi mập, nói giọng Huế đặc. Là một Phật tử du học từ Mỹ về ông vào dạy trong đại học Vạn Hạnh cho đến ngày bị bắt, tôi cũng không hỏi ông tội gì.

Cũng khoảng trên dưới 40, ông khác với giáo viên Hưng, ít nói hơn nhưng kể rất nhiều chuyện về thời du học Mỹ (sau này tôi ở Mỹ nghiệm ra ông nổ cũng hơi nhiều, hí hí) kiến thức về tình hình thế giới của ông đáng khâm phục, ông bình luận về các vấn đề quốc tế rút ra từ những bài đọc trên báo Nhân Dân (hay Sàigòn giải phóng?) rất hay, không hiểu sao người uyên bác như ông lại kẹt lại để vào tù?

Tôi hơi thất vọng về ông do một lần trong tù có lệnh khám tư trang đột xuất, ông vì một con dao -làm từ nửa cái nắp hộp sữa mài ra- nhưng không kịp dấu đi, lúc ông nhờ tôi dấu đi, ông run bần bật mặt không còn chút máu tưởng như ông có thể ngất tại chỗ, mãi lâu sau ông mới lấy lại được bình tĩnh trở lại, tôi không ngờ một người ăn nói lưu loát như ông, lại quá dở khi đối diện với sự cố nho nhỏ như thế. Cái gan dạ, sự liều lĩnh hình như không hợp với giới trí thức lắm! Sau này ông chuyển trại qua Chí Hoà, không biết ông trôi nổi phương nào.

Không biết kiểu dấu đồ trong tù ngày nay có khác không, chỗ an toàn nhất là con thỏ của bồn cầu, chỉ cần cột nylông cho kỹ, với một sợi chỉ để dễ lần theo, đút vào sâu trong khúc cong xuống của con thỏ, đồ sẽ nằm đó yên ổn, dĩ nhiên là không được dội nước bồn cầu. Hí hí






Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

Tao ngộ 22: A Lúi.

A Lúi -tên không nhất thiết khác sự thật- là người Tàu Chợ lớn, không biết bị bắt tội gì nhưng nằm cùng đội rau xanh với tôi, chắc chắn không phải loại lìu tìu vì nằm Z30C thì không có án nhẹ.

Người mập mạp, mắt hí hơi lùn, bọn tù chúng tôi bị đói nên ai cũng như cây sậy, riêng A Lúi thì vẫn mập. Anh khoảng 35-40 tuổi, kém tiếng Việt chỉ đủ giao tiếp thông thường, anh bị hủi, anh sống chung với chúng tôi cũng giữ kẽ không đụng chạm thân thể như ngồi gần hay nằm kế nhau như bọn trẻ chúng tôi, hai bàn chân anh bị mất ngón cùng với những vết nứt trên bắp chân lúc nào cũng rỉ nước vàng vài ngón chân như bị nướng cháy nham nhở chực rụng ra.

Anh Lúi có kiểu ăn uống kỳ lạ, trong suốt gần 3 năm tôi biết anh, mỗi bữa anh đều ăng đúng một lon Guigoz hầm nhừ gồm các loại đậu như đậu đen-đậu trắng-đậu đỏ-đậu xanh-đậu phộng mỗi thứ một nhúm, nửa tán đường-chút muối cùng với tất cả những gì trại phát bất kể cá kho-rau luộc hay thịt kho ngày lễ cuối cùng là những gì anh kiếm được trong suốt buổi làm việc, các loại rau củ hay bất cứ thứ gì có thể nấu lên, anh nấu thành một hỗn hợp màu nâu đen nhờ nhờ hơi đặc. Anh cứ thế húp ngày này tháng khác không bao giờ thay đổi kiểu nấu, và chỉ ăn đúng một lon Guigoz không hơn.

Món ăn kinh dị của anh không biết có thêm sâm hay thuốc bắc trong đó hay không, nhưng anh rõ ràng vẫn khoẻ mạnh và mập mạp, hoàn toàn trái với bọn tôi lúc khan hiếm lương thực ai cũng xanh xao và người mỏng như tàu lá.

Anh là người nghĩ ra chiêu nhắn người nhà gởi riêng phần kẹo bánh, trà, thuốc để riêng chiêu đãi cán bộ, do vậy anh được nhận chân nấu nước trong bếp tại khu rẫy lao động. Cán bộ đặc cách cho anh không phải gánh nước-cuốc mương, là những công việc bọn tôi phải làm hàng ngày. Chúng tôi, sau màn cuốc đất-lên luống-gieo hạt thì cực nhất là giai đoạn tưới, hàng ngày mỗi người phải gánh 100 đôi nước, cặp thùng mỗi bên 20 lít, gánh từ dưới suối lên rồi mang đi tưới rẫy rau, tôi lúc đó trai trẻ mà cũng khờ người với chỉ tiêu đó huống chi đám bạn tù già.

Mỗi ngày khi ra lán, anh Lúi lo nấu nước pha trà, mang thuốc và kẹo bánh các loại chờ cán bộ quản giáo và đôi khi vệ binh vũ trang cũng được ké. Theo tôi có sự phân biệt rõ giai cấp giữa cán bộ quản giáo và vệ binh vũ trang, hai loại cán bộ này không thân thiện với nhau lắm, rất nhiêu lần cán bộ quản giáo đội khác qua chơi uống trà ăn kẹo, nhưng hiếm khi tôi thấy quản giáo mời kẹo bánh vệ binh vũ trang, tôi nghĩ hai đẳng cấp khác nhau, không thân thiện với nhau lắm?

Trong suốt 5 năm trong tù, tôi gặp rất nhiều người Tàu và phải kính nể họ về cách biết xử dụng sức mạnh của đồng tiền, thậm chí ngay cả khi họ đang trong tù, anh được thả trước tôi thời gian ngắn không biết có chạy chọt gì không? Hí hí


Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Tao ngộ 21: Cán bộ gái.

Nhóm cán bộ võ trang giữ trại Z30C theo tôi nhớ là toàn những người từ Thanh-Nghệ-Tĩnh nói giọng rất nặng, trong số đó có khoảng 6 người là nữ, tuổi trung bình khoảng trên dưới 19 tuổi.

Biên chế cho mỗi đội khi ra làm ngoài ruộng là 2 vệ binh võ trang và 1 cán bộ quản giáo, bọn tù chúng tôi gọi tất cả là cán bộ không phân biệt ai là võ trang hay quản giáo, riêng các nữ cán bộ làm việc trong văn phòng trại tù, chúng tôi không tiếp xúc bao giờ. Sở dĩ chúng tôi biết đến các cô gái này vì thường giờ đi lao động về hay thấy các cô ra sân bóng rổ đối diện với cổng trại chơi đuà cùng với các cán bộ nam khác, vì chất nông dân còn nguyên (?) nên chúng tôi thường thấy các cô này giỡn với các cán bộ nam rất mạnh bạo, chơi banh cùnh nhau thậm chí còn thấy đá vào người nhau, những kiểu giỡn giữa nam nữ hơi khác với kiểu miền Nam, thoạt đầu làm chúng tôi hơi ngạc nhiên, sau quen dần cũng không để ý nữa, tôi cũng không nhớ có ai nhìn được mắt cả, thời đó tôi cứ nghĩ gái vùng này xấu đều như nhau, sau này mới thấy mình lầm!

Thời đó khoảng 76-80, hình như tiêu chuẩn công an (hay quân đội) các cô được phát khăn rằn, tôi thấy rất nhiều khăn rằn được xử dụng.

Toàn trại đều dùng chung con suối Lạnh, con suối được dùng làm ranh giới một mặt của K1/Z30C Hàm Tân-Thuận Hải trước khi đi sâu vào cánh rừng Lá, dĩ nhiên cán bộ sử dụng đầu nguồn, bọn tù thì chia nhau phía hạ lưu.

Trong bài trước, tôi cho là cán bộ gái không biết đến sịp (loại may sẵn, có hay không ren, nhiều màu...) vì khúc suối dành riêng cho cán bộ, có một khu dùng để phơi đồ, và ở đó chỉ toàn một loại sịp tam giác to như cái nón lá được khâu bằng những mảnh khăn rằn thành hình ba cạnh, có hai sợi giây lòng thòng để cột hai bên hông, kiểu như bikini thời nay, không hề có kiểu sịp như loại bán ngoài chợ.

Nước suối rất trong, sui  xẻo mà giờ tắm rửa lại gặp cán bộ nữ giặt vải lúc có kinh, phải đến một phần tư con suối bị nhuộm mầu hồng, bọn tù vừa tranh thủ tắm nhanh lại phải tránh nước nhuộm màu thật cực, những miếng vải khăn rằn được dùng rồi giặt và phơi bay phất phới như lá phướn! Chắc sau này các cô tiếp xúc với thành thị mới đổi kiểu khác đi, hí hí

Mãi sau này, đôi lần khi gặp lại bạn tù được thả về sau, nghe kể chuyện có cán bộ nữ yêu tù cải tạo rồi lấy nhau, là chuyện mãi sau này.

Tao ngộ 20: Cán bộ Nghệ.

Thời gian ở K1/Z30C tôi nằm trong đội rau xanh 18 (có nhiều đội rau xanh: đội 24, đội 19... Tôi cũng không nhớ rõ từ đâu mà có tên như thế?)

Mỗi đội có biên chế một quản giáo, đội tôi là cán bộ quản giáo tên Nghệ, anh chàng này lớn hơn tôi khoảng 5 tuổi, cỡ 25. Người tầm thước kiểu phổ biến dân miền Bắc với cằm bạnh, khuôn mặt góc cạnh, dân xứ Nghệ nói tiếng trọ trẹ, tôi không phân biệt được dân vùng này Thanh Hóa hay Nghệ An hoặc Hà Tĩnh.

Thời đó rất đói, bọn tù chúng tôi còn có tiếp tế của gia đình nên còn cầm cự được, cán bộ thì chịu chết vì không có nguồn tiếp tế, vì vậy một số bạn tù người Tàu chụp cơ hội mua chân nấu nước để được thoải mái. Họ nhắn người nhà gởi đặc biệt riêng phần kẹo bánh, thuốc lá và trà rất nhiều, đủ để cung cấp cho cán bộ trong vòng mỗi tháng. Anh bạn tù này đương nhiên được chân nấu nước-châm trà chiêu đãi cán bộ quản giáo trong suốt ngày làm việc ngoài công trường bằng những loại quà mà họ mang theo.

Cũng không nhiều nhặn gì lắm, nhưng rõ là những thứ mà các anh chàng cán bộ này chưa hề được thưởng thức nên anh bạn tù này có được sự thoải mái, không phải làm việc nặng và chỉ loanh quanh trong khu bếp của đội rau xanh.

Nói về anh chàng quản giáo, anh chàng này nổ thôi rồi -là nổ với đám vệ binh, chứ không phải với chúng tôi, đám tù- toàn bộ đám vệ binh, cả nam lẫn nữ, đều được tuyển mộ đâu đó vùng Thanh Nghệ, huấn luyện và đưa thẳng vào Hàm Tân, nói chuyện với chúng tôi họ chưa hề biết đến Sài gòn, chưa bao giờ ra Hà nội và biết rất ít về văn minh đô thị, đám cán bộ gái trẻ còn không có quần lót (sịp) và chưa biết đến băng vệ sinh! Nhiều chàng cho biết ở trại tù này mới hưởng ánh sáng điện.

Một lần tôi trốn việc, chui vào bếp xin điếu thuốc của anh bạn tù, ngồi nghe lỏm đám cán bộ uống trà-ăn kẹo đậu phộng-hút thuốc-tán gẫu, nghe anh cán bộ Nghệ đang thao thao kể về một chuyến hành trình ra Hà nội nào đó của anh ta -ra Hà nội chắc là lớn chuyện, thấy mọi người im lặng nghe anh kể- anh tả về toà nhà quốc hội ở Hà nội, anh tả toà nhà có ba tầng lầu, và điều đặc biệt nhất anh nhấn mạnh cho các thính giả chung quanh là trong thời chiến, khi báo động có máy bay là 'ta' nhấn nút cho toà nhà chìm xuống dưới đất, hết báo động lại nhấn nút cho trồi lên, tôi nghe rõ các anh vệ binh vừa nghe vừa trầm trồ thán phục! Hí hí, tôi cũng...

Tôi nhớ mãi cán bộ Nghệ vì kỷ niệm riêng với tôi chứ không vì tài nghệ nổ của anh ý, một lần tôi lỡ miệng, vì cán bộ Nghệ chưa cho lệnh bọn tù xuống suối rửa ráy để chuẩn bị về trại, tôi nói với bạn tù:
Sao 'nó' chưa cho bọn mình xuống suối tắm rửa, đến giờ về trại rồi?

Anh chàng Nhgệ, cán bộ đang đến ngay sau lưng tôi nghe được -trong tù, chỉ được gọi là cán bộ xưng tôi, không được gọi là 'nó', hí hí- phạt tôi một tuần không được tắm rửa (mẹ ơi! làm đội rau xanh, tối ngày dính với đất và cứt mà không cho rửa ráy) làm khổ tôi và anh em trong đội phải dấm dúi nước cho tôi rửa ráy trong trại cả tuần lễ. Hí hí

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

Điệp vụ trong bóng tối, KGB-Bắt cóc con tin tại Lebanon.

Tại Beirut, vào ngày 30 tháng 9 năm 1985, một nhóm Hồi giáo quá khích vũ trang đã bắt giữ bốn nhà ngoại giao của Liênxô (Arkady Katkov, Valery Myrikov, Oleg Spirin và Nikolai Svirsky) tại ngay bên ngoài đại sứ quán, ông Katkov trúng đạn bị thương ở chân.

Bọn bắt cóc tự xưng là "Lực lượng Khaled Al-Walid" và "Tổ chức Giải phóng Hồi giáo". Theo Đại tá Yuri Perfilyev là chỉ huy trưởng KGB ở Lebanon, vụ bắt cóc đã được tổ chức bởi một tên trùm khét tiếng Hezbollah: Imad Mugniyeh để đáp trả cuộc tấn công của phe ủng hộ Syria. Những chỉ huy gốc Shiite yêu cầu Moscow buộc Damascus đình chỉ cuộc tấn công tại Tripoli và đóng cửa đại sứ quán của Liênxô ở Beirut. Để chứng minh rằng họ nói là làm, chỉ hai ngày sau vụ bắt cóc, nhóm bắt cóc đã bắn Katkov và vất cái xác bị nát bét vì đạn AK của ông tại một bãi rác ở Beirut.

Ngay sau đó Đại tá Perfilyev đã tìm gặp Ayatollah Muhammad Fadlallah, lãnh đạo tinh thần của người Shiite Lebanon với lời nhắn: "Đừng để một cường quốc phải chờ đợi, nếu để họ chờ lâu quá, sẽ đưa đến những hành động nghiêm trọng và những hậu quả khó lường". Gặp phải sự im lặng từ Fadlallah, Đại tá Perfilyev trưởng nhóm KGB đã nói thẳng thừng:

"Chúng tôi không chỉ nói về những người ở Beirut. Tôi đang nói về Tehran và Qom (thành phố linh thiêng Shiite và nơi cư trú của Ayatollah Khomeini) không xa lắm với biên giới Nga. Phải nhớ Qom rất gần với chúng tôi và một sai lầm trong việc phóng tên lửa vì lỗi kỹ thuật hay một sự cố, lúc nào cũng có thể xảy ra, và chỉ có Chúa hoặc Allah biết điều gì sẽ xảy ra với một tên lửa mang đầu đạn."

Fadlallah run rẩy thấy rõ và đã trả lời sau một khoảnh khắc im lặng: "Tôi nghĩ chuyện này sẽ kết thúc tốt đẹp". Thực ra đe dọa một trong những thành phố linh thiêng của người Shiite chỉ là một phần trong chiến thuật đối phó của Liên Xô.

Spetsgruppa A hay còn gọi là nhóm Alpha (một nhóm đặc vụ của Liênxô được thành lập sau vụ 'Tháng 9 đen' giết con tin tại Olympic ở Đức) được điều động giải quyết vụ bắt cóc.

Nhóm Alpha đã bắt cóc một người cháu trai của thủ lĩnh Hezbollah nổi tiếng, họ cắt dái anh ta và đóng gói gửi nó tới tổng hành dinh Hezbollah, sau đó bắn chết anh này. Ngoài việc cho nhóm bắt cóc thấy những khả năng ghê gớm và mức độ nghiêm trọng mà KGB có thể làm, họ cũng gởi kèm tới nhà lãnh đạo Hezbollah danh sách những người thân khác của ông ta và nhắc rằng ông ta có thể sẽ nhận nhiều gói hàng như vậy nếu ba nhà ngoại giao Liênxô không được thả ra ngay lập tức.

Ngay sau đó, ba con tin còn sống sót đã bị bỏ trên một chiếc BMW cũ kỹ ngay gần đại sứ quán Liênxô và kể từ đây không hề có nhà ngoại giao hay người Liênxô nào bị bắt cóc ở Lebanon.

Đây là cách Liên Xô hoạt động -làm chứ không nói- và đây là ngôn ngữ mà Hezbollah dễ hiểu nhất, không chỉ Hezbollah, mà cả ISIS và mọi nhóm khủng bố Hồi giáo khác đều hiểu điều này.

Bonus:
Năm 2010, lực lượng Bịêt hải Nga đối đầu với cướp biển Somalia.

Xuất phát từ tàu mẹ, bọn cướp biển Somalia đã cướp một tàu chở dầu của Nga. Lực lượng Biệt hải Nga đã tấn công lên tàu chở dầu, dễ dàng trấn áp những tên cướp biển, bắt chúng và đưa toàn bộ nhóm cướp biển trở lại trên tàu mẹ của chúng. Trên tàu mẹ đó, những tên cướp biển bị trói chặt và gài thuốc nổ trên tàu, sau khi trở lại trên con tàu của họ, người Nga đã kích nổ con tàu của cướp biển cùng với toàn bộ nhóm cướp biển trên tàu.

Từ đó, không có tàu Nga nào bị cướp nữa.