Các cụ có câu "Sướng con cu, mù con mắt" nhưng có những trường hợp chẳng sướng gì vẫn bị mù như thường.
Mấy ngày qua, xôn xao vụ FBI mở lại hồ sơ điều tra về Email của VS Hillary, vì từ vụ điều tra tai tiếng về sex của Anthony Weiner FBI đã tìm thấy những dính líu qua lại liên quan đến hồ sơ Email trước đây của Hillary (bé Hì)
Weiner làm gì nên tội, hí hí???
Anthony Weiner, là chồng của Huma Abedin cánh tay mặt của bé Hì trong cuộc tranh cử tổng thống hiện nay. Anthony Weiner là cựu dân biểu của New York từ 01/1999 cho đến ngày từ chức 06/2011, là thành viên đảng dân chủ, được trúng cử với gần 59% phiếu bầu, vinh quang chói lọi cho đến một ngày...
Đó là ngày 27/05/2011, khi Weiner chụp hình mình mặc chiếc quần lót boxing (kiểu quần đùi bằng thun) nổi rõ mồn một trong đó là chú chim đang cương cứng hết cỡ, hí hí sau đó gởi tấm hình cho một nữ sinh viên 20 tuổi, người vẫn follow tài khoản twitter của Weiner. Ngay hôm sau một blogger tên Andrew Breitbart đã chụp màn hình, công bố hình ảnh trên khắp nơi. May mắn thay, lần đó Weiner đã nhanh trí đổ vấy cho tài khoản bị hack, người nào đó định bôi xấu hình ảnh của ông ta.
Hai tháng sau, một cô bé 17 tuổi tại Delaware hào hứng tweet trên mạng "thiệt không thể tin nổi, mình đang tâm tình với Dân biểu Weiner" Cảnh sát nhận được tin báo đã tìm đến cô bé và tìm hiểu coi có bất cứ lời nói, tin nhắn dâm đãng nào đã gởi tới cô không? Weiner sau này đã xác nhận có tiếp xúc qua mạng với cô bé nhưng không có bất cứ hành vi, lời nói nào quá đáng cả.
Rồi ngày 06/06/2011 một bức hình cởi trần của Weiner, tiếp theo sau nhiều tấm hình sexy cuả Weiner gởi cho nhiều cô gái khác qua mạng lần lượt bị phát hiện.
Sau cùng, trong cuộc họp báo tại New York Weiner đã thú nhận "trước đây tôi đã nói dối, từ trước đến giờ những hình ảnh sexy là do tôi tự gởi đi" ông cũng xin lỗi các blogger vì trước đây đã mắng chửi họ là bọn nói xạo, khi họ tiết lộ những bê bối của ông!
Sau vụ này, ông xin từ chức dân biểu, bị vợ ly dị, hí hí
Trước tiên, hãy nhẩm lại chút kiến thức Thiên Chúa Giáo,
-David, vị vua Do thái trong cựu ước, được nhắc đến trong nhạc phẩm này ám chỉ đến mặc cảm tội lỗi trong tình yêu. Trong một lần thấy Bathsheba tắm trên sân thượng, ông mê nàng. Ông đã vì yêu, chiếm lĩnh Bathsheba, mà tìm cách đẩy Uriah chồng nàng ra chiến tuyến để y bị giết chết, sau đã cưới nàng dưới bao lời trách móc.
-Samson và Delilah, ám thị của sự lừa dối, mụ mị trong tình yêu, Samson một lãnh tụ Do thái đã bị nàng Delilah dùng sắc đẹp, lời ngon ngọt lừa chàng mê mẩn trong mối tình này, nói ra bí mật sức mạnh và bị nàng lừa cắt trọc đầu mất đi mái tóc-cũng là sức mạnh của mình, để dẫn đến cái chết mù loà trong xiềng xích, câu chuyện bi thương này cũng trong cựu ước.
-Chim bồ câu bay lượn, được dùng cách ám thị trong kinh thánh để chỉ về các thiên sứ, khi xuất hiện luôn mang đến bình an và hoan lạc cho thế nhân, ở đây là dấu chỉ về sự thăng hoa của tình yêu, sự thánh thiện, hoàn hảo của tình yêu.
Hallelujah, nghĩa là "vinh danh thiên chúa" nhưng trong nhạc phẩm Hallelujah không mang nghĩa này, đây có thể hiểu là những tiếng rên rỉ sung sướng lên đỉnh khi làm tình, cùng trong bài này, tác giả sử dụng "broken Hallelujah" như lời than vãn, ray rứt của cuộc tình không trọn vẹn, tội lỗi, dối lừa! Hallelujah lúc này chỉ là những nức nở nghẹn ngào, không còn là tiếng hoan ca tình yêu nữa.
Verse 1:
Now I've heard there was a secret chord
That David played and it pleased the Lord
But you don't really care for music, do you?
It goes like this
The fourth, the fifth, the minor fall, the major lift
The baffled king composing Hallelujah...
Bạn có thể nghe về một hội đồng ca nào đó
Gồm cả David, dâng lên hài lòng Thiên chúa
Nhưng chắc là bạn chẳng quan tâm đến âm nhạc, nhỉ?
Chuyện như vầy,
Những đoạn 4, đoạn 5, hợp âm giáng, hợp âm thăng...
Có ông vua bối rối sáng tác điệu Hallelujah
Sơ tả vua David, với những công trạng làm vui lòng thượng đế, tác giả dẫn chuyện đưa chúng ta đến với vị vua Do thái, với nhóm thờ phụng, người đã sáng tác ra lời hoan ca ngợi ca Thiên Chúa Hallelujah
Verse 2:
Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you to a kitchen chair
She broke your throne, and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah...
Niềm tin của ta vững chắc nhưng ta cần minh chứng
Nhưng, ta chỉ một lần thấy nàng tắm trên sân thượng
Sắc đẹp nàng cùng ánh trăng đã quật ngã ta.
Nàng cột ta vào chiếc ghế ở bàn ăn
Bẻ gẫy vương miện, cạo đầu ta
Và môi trong môi ta, nàng gào lên Hallelujah
Ba câu đầu này, dẫn ta vào sâu hơn mô tả cú sét ái tình của David, Với Thượng đế ông phải chứng minh về lòng tin cùng ngài, nhưng khi nhìn thấy tình yêu của mình lần đầu tắm trần truồng trên sân thượng dưới ánh trăng, sắc đẹp cộng với ánh trăng ma mị đã xô ngã người anh hùng của cựu ước chìm vào tội lỗi. Hallelujah ở đây là tiếng rên nhục dục chìm trong tình yêu, hoan lạc tội lỗi Hallelujah. Nửa sau là ẩn dụ về sự dại dột ngây thơ của Samson, khi một đầu lĩnh Do thái sa vào lưới tình, người tình đã phản bội, trong khi cắt mất tóc-sức mạnh của chàng ta, nàng vẫn môi trong môi và rên rỉ lên đỉnh cùng người tình chắc chắn sẽ chết trong tay nàng! Hallelujah với Delilah là tiếng gào sung sướng trong tình yêu dối lừa.
Hallelujah trong đoạn này là định nghĩa của sự tội lỗi, tan vỡ, tuyệt vọng trong tình yêu, gồm có cả bóng dáng của vui mừng, hoan lạc. The 'black' Hallelujah.
Verse 3:
Now maybe there's a God of love
As for me all I ever learned from love
Is how to shoot someone who outdrew you
But it's not a crime that you're here tonight
It's not some Pilgrim who claims to have seen the light, no
It's a cold and it's a very broken Hallelujah...
Có thật chăng một vị thần tình yêu
Sao những gì anh học được ở cuộc tình này
Là chiến đấu với người để giành giựt em
Nhưng đêm nay sao em trốn chạy
Có chăng ai đó thấy ánh hào quang mà ca hát,
Không, chỉ là những đơn côi cùng với đắng cay Hallelujah
Bắt đầu từ đây, tác giả viết về cuộc tình của riêng "mình", sau khi định nghĩa Hallelujah theo cựu ước, giờ là Những trải nghiệm trong đời thường, có thật tồn tại một thần tình yêu? Sao ta phải giành giật mới được em? và kết cục em cũng bỏ ta, chỉ còn lại là lạnh lẽo cô đơn tăm tối, lúc này ta cũng thấy Hallelujah-không là hoan ca-mà là một broken Hallelujah, đẫm đắng cay. Hallelujah ở đây là những tức tưởi cay đắng cho cuộc tình vừa mất! "It's not some Pilgrim who claims to have seen the light" là ẩn dụ về đêm Giáng sinh, khi Chúa Hài đồng sinh ra, thiên thần hoan ca Hallelujah.
Verse 4:
Oh people I have been here before
I know this room and I've walked this floor
You see, I used to live alone before I knew you
And I've seen your flag on the marble arch
But listen, Love Love is not a victory march, no
It's a cold and it's a broken Hallelujah...
Người ơi, ta đã từng ở đây nhé
Ta biết căn phòng này, ta đã từng đếm bước nơi đây
Em biết không, ta đã từng sống cô đơn trước khi biết em
Ta đã chinh phục em và chiếm đoạt
Nhưng, yêu em không là cuộc diễn hành chiến thắng,
Không, mà chỉ là những cay đắng, đơn côi Hallelujah
"the flag on the marble arch" là ẩn dụ cho chiến thắng, tịch thu cờ địch vất xuống nền đền thờ.
Verse 5:
There was a time you let me know
What's really going on below
But now you never even show it to me, do you?
I remember when I moved in you
And the holy dove she was moving too
And every single breath we drew was Hallelujah...
Đã có thời em luôn thủ thỉ
Những tâm sự từ sâu trong đáy lòng em
Nhưng sao nay em câm nín, em ơi?
Anh vẫn nhớ những cơn hoan giao hoang hoải
Cánh thiên thần hạnh phúc chao nghiêng
Từng hơi thở dốc, ta cùng gào rú Hallelujah
Những nhung nhớ về người yêu, còn đâu những khi luôn ríu rít tâm sự những điều sâu kín trong lòng, sao giờ này em câm nín coi anh như người lạ? Em còn nhớ những cơn giao hoan chúng mình cùng gào lên hoan lạc, thánh thiện biết bao, hạnh phúc tràn đầy Hallelujah.
Verse 6:
I've done my best, I know it wasn't much
I couldn't feel so I learned to touch
I've told the truth, I didn't come here just to fool you
And even though it all went wrong
I'll stand right here before the Lord of Song
With nothing, nothing on my tongue but Hallelujah...
Anh đã cố hết sức, dẫu biết rằng em đổi dạ
Thử mọi cách làm thay đổi lòng em
Thật, anh đến gặp em lòng không gian dối
Em ơi cho dù tình ta tan vỡ
Trước mặt thượng đế toàn năng
Dù trống vắng đơn côi, anh vẫn rên lên Hallelujah
Anh đã cố hết sức nhưng vẫn không giữ được em, anh đến đây không tìm cách dối lừa chỉ muốn em biết rằng, trước Thượng đế trên cao dù lòng anh trống vắng, anh vẫn cứ ca lên Hallelujah để nhớ mãi về cuộc tình em đã trao tặng!
Cho em quên tuổi ngọc, lời thú tội muộn màng của những trí thức ảo tưởng thời VNCH
Thưởng thức nhạc phẩm ''Cho em quên tuổi ngọc'' chắc không mấy ai hiểu những tâm sự gói ghém trong bài hát mà nhạc sỹ Lam Phương đã viết, xin viết ra đây lời tâm sự ẩn sau bài hát, do chính nhạc sỹ đã tự bạch.
Bài hát là một lời tâm sự, những ân hận cuả một lớp trí thức điển hình thời VNCH (dùng ngôn ngữ âm nhạc, ''nàng'' trong bài hát là đại diện cho những trí thức cả tin thời đó), ngây thơ tin vào những ảo mộng cộng sản, bằng mọi cách lung lạc xã hội Sàigòn thời chiến, tìm mọi khả năng nhằm lật đổ nền dân chủ mới chớm trên miền Nam, sau 'giải phóng' nhận ra sự thật quá trễ. Một số khi ra được nước ngoài nàng đã thổn thức những tâm sự, những ăn năn muộn màng của mình, những sai lầm đã không thể sửa chữa, nhạc sỹ Lam Phương đã diễn đạt lại từng góc khuất, đơn côi, đớn đau của nàng.
Cho em quên cơn mộng ảo xa xôi thơ ngây ngày nào Em quên được phút trong tay mưa bay dạt dào Ðến muôn đời sau em không còn nhớ yêu thương bên nhau lần đầu
Cho em trao một lời cuối ăn năn quê hương tội tình Em xin được khóc cô đơn ôi thân phận mình Thế gian còn ai? Em xin từ giã thơ ngây xuôi theo dòng đời.
Nay lang thang xứ người, cô đơn thân phận biết có ai hiểu cho những ngây thơ thời trẻ dại? Ai đây sẽ chấp nhận những lời ăn năn, những lỗi lầm gây ra trong thời trẻ của nàng?
Hơi men nào cũng chẳng đủ say Thêm cho đầy giấc mộng chua cay Có nhớ phút giây lầm lỡ Uống cho thật say Uống quên ngày mai Thế gian đổi thay Quanh ta có ai Ðời còn chi trong tay
Những lầm lỡ này-một kiểu cách điệu-nàng chỉ nhờ men rượu giảm bớt đi những ân hận trong lòng, uống cho quên đời, quên đi những lầm lỡ đã gây ra cho quê hương, chỉ không cơn say nào tồn tại đủ lâu để quên đi, biết bao ước mơ giờ đều tan theo ảo mộng, quê hương giờ còn gì?
Mai đây khi hoa tàn úa xanh xao phong ba dập vùi
Em xin nằm xuống mang theo con tim ngậm ngùi Giấc mơ nhỏ nhoi đưa em vào cõi thiên thu yêu thương đời đời ...
Ngày nào, khi tuổi xuân tàn, xuôi tay nằm xuống ''nàng'' chỉ xin được mang theo con tim đau khổ đầy ân hận này vào cõi vĩnh hằng, xin hãy tha thứ để nàng mãi mãi giữ những yêu thương... nơi thiên đường vĩnh viễn.
Hazel Ying Lee đã được nhận bằng Pilot ngay trong năm đầu tiên mà cô được ngồi vào buồng lái. Cô đam mê bay lượn, hơn một thập kỷ sau đó, cô đã chết trong khi làm công việc cô yêu thích. Là nữ phi công Mỹ gốc Trung Hoa đầu tiên bay cho quân đội, cô đã hy sinh trên đường giao một chiếc máy bay chiến đấu từ New York đến Montana trong Thế chiến II.
Lee sinh tại Portland, Oregon 1912, sau khi tốt nghiệp trung học, cô đã làm một nhân viên thang máy tại một cửa hàng bách hóa trung tâm thành phố, một trong những công việc chỉ dành cho cô gái gốc Hoa. Nhưng cô cũng tham gia câu lạc bộ bay Trung Hoa của Portland, thời điểm này chỉ có ít hơn một phần trăm phi công ở Mỹ là phụ nữ, theo đuổi đam mê cô dành dụm tiền và bắt đầu học bay.
1933, với bằng bay trong tay, Khi Nhật tấn công Mãn châu, Lee hưởng ứng phong trào chống Nhật, cùng với nhiều kiều bào khác đi Trung Hoa, cô đăng ký vào không quân chiến đấu chống Nhật Bản. Mặc dù nhu cầu rất cần phi công, cô đã bị từ chối, cô sống ở Canton và bay cho một hãng hàng không tư nhân. Nỗ lực xin vào không quân Trung Hoa vẫn bị từ chối ngay cả khi Nhật Bản xâm chiếm bốn năm sau. Cô trốn sang Hồng Kông, trở về Hoa Kỳ và cuối cùng trở thành phi công cho quân đội Mỹ sau vụ Nhật tấn công Trân Châu Cảng. WASP-Đội nữ phi công hỗ trợ, là một nhóm các nữ phi công tình nguyện phục vụ trong Không lực Mỹ, vì thời chiến những nam phi công chiến đấu cần cho mặt trận, nên nữ được tuyển chọn để giao máy bay từ các nhà máy sản xuất, những người nữ phi công bay những chiếc máy bay mới đến căn cứ huấn luyện, đến bến cảng để vận chuyển ra nước ngoài hoặc đến các điểm trung chuyển khác.
Lee đã được tuyển và đào tạo lái chiến đấu cơ tại Avenger Field ở Sweetwater, và đó là dịp mà cô đã kịp ghi vào lịch sử WASP: "Một lần trong thời gian đào tạo, do máy bay trục trặc Lee đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp trên một nông trại, người nông dân lầm cô là phi công Nhật Bản lái máy bay xâm lăng Mỹ, đã dùng chiếc đinh ba rượt cô chạy lòng vòng chung quanh chiếc máy bay cho đến khi cô giải thích được mình là phi công Mỹ" Tốt nghiệp, Lee gia nhập phi đội vận chuyển tại căn cứ không quân Romulus, Michigan. Cô là một trong khoảng 130 nữ có khả năng lái chiến đấu cơ tốc độ cao, trong đó gồm P-47, P-51 Mustang và P-63 Kingcobra.
1932
"Đối với phụ nữ để hầu như hàng ngày lái một máy bay với tốc độ gần 400 MPH xuyên khắp đất nước phải là người rất lãng mạn, khi ta biết rằng hầu hết phụ nữ và ngay cả đàn ông thời đó -thập niên 40- chưa bao giờ được ra khỏi tiểu bang, thậm chí có thể chưa từng ra khỏi làng. Các cô gái trẻ, bị quyến rũ vì sự hấp dẫn khi là phi công bay lượn trên bầu trời, nhưng đây là công việc nguy hiểm, họ bay những chiếc máy bay trực tiếp từ dây chuyền lắp ráp, thường họ là người phát hiện quá trễ những lỗi lắp ráp trong khi bay giao hàng. Trong số 1.102 nữ phi công tham gia vào chương trình, 38 người đã chết và Lee là người cuối cùng tử nạn. Tháng 11 năm 1944, Lee nhận nhiệm vụ bay chiếc P-63 từ nhà máy của Bell Aircraft tại Niagara Falls, New York. Vào khoảng 14:00 giờ, đến phi trường Great Falls, Montana cô nhận được lệnh hạ cánh, cùng bay trong nhóm nhiều máy bay nên đã xảy ra tình trạng lộn xộn, máy bay của cô đã đụng vào một chiếc P-63 khác trên đường băng hạ cánh và cháy. Cứu hỏa kéo cô ra khỏi chiếc máy bay cháy vụn, bộ đồ bay cháy xém khét lẹt, cô mất 2 ngày sau trong nhà thương. Chưa hết, ngay sau đó gia đình cô cũng đồng thời nhận tin anh trai cô, Victor, đã tử trận ở Pháp, nơi anh ta chiến đấu trong kỵ binh Hoa Kỳ. Nhưng khi gia đình chuẩn bị để chôn hai anh em trong một nghĩa trang ở Portland, Oregon. Những người quản trang cho là người châu Á không được phép chôn trong khu người da trắng. Nghĩa trang chỉ đồng ý cho chôn sau một trận tranh đấu dữ dội. Mặc dù các nữ phi công đã bay dưới sự chỉ huy quân sự, những người này vẫn bị coi là thường dân và không nhận được bất cứ đãi ngộ nào từ quân đội. Họ thậm chí phải tự trả tiền phòng trọ, tự mua đồng phục bay. Jean Harman một cựu phi công nhớ lại, những nữ phi công đã phải quyên góp tiền để lo hậu sự khi một trong những bạn cùng phòng của họ bị tử nạn. "Chính phủ thậm chí không trả tiền cho đám tang của chúng tôi," cô kể "Chúng tôi đã phải góp tiền để chở xác đồng đội về quê nhà họ" Nhưng Harman cũng nhấn mạnh về tình yêu với bầu trời "Đó là một đam mê" cô nói. "Và ai nói rằng làm phi công vì yêu nước chỉ là thêm mắm dặm muối" Hơn 30 năm sau, những nữ phi công trong WASP cũng được thừa nhận công lao, khi Hạ viện và Thượng viện đã bỏ phiếu chấp nhận cho họ đủ điều kiện hưởng quyền lợi cựu chiến binh.
Bésame, bésame mucho,
Como si fuera esta noche la última vez
Bésame, bésame mucho,
Que tengo miedo a perderte, perderte otra vez [2]
Quiero tenerte muy cerca,
Mirarme en tus ojos, verte junto a mí
Piensa que tal vez mañana
Yo ya estaré lejos, muy lejos de ti
Bésame, bésame mucho,
Como si fuera esta noche la última vez
Bésame, bésame mucho,
Que tengo miedo a perderte, perderte después
Que tengo miedo a perderte, perderte otra vez
"Em sợ có ngày ta mất nhau, em sợ mất anh lần nữa"
"Que tengo miedo a perderte, perderte después
Que tengo miedo a perderte, perderte otra vez "
"Mình hôn nhau, Anh"
Hôn em, hôn em nữa đi anh
Hãy như lần cuối ta hẹn nhau
Hôn em, hôn em nhiều đi anh
Em sợ có ngày ta mất nhau!
Em chỉ mong cảm giác anh kề cận,
Thấy bóng em trong mắt anh,
Sợ rồi mai kia,
Có thể em xa anh mãi mãi!
Hôn em, hôn em nữa đi anh
Hãy như lần cuối ta hẹn nhau
Hôn em, hôn em nhiều đi anh
Em sợ có ngày ta mất nhau!
Em sợ mất anh, thêm lần nữa.
Theo lịch trình, cứ mỗi 2 năm một lần RIMPAC được tổ chức, tham dự lần này gồm có 27quốc gia,45tàu chiến,5tàu ngầm,hơn200máy bayvà25.000 người sẽtham gia từ ngày30/06 cho đến 04/08xung quanhquần đảoHawaiivàmiền NamCalifornia.
Là cương trình tập trận lớn nhất thế giới,RIMPACcung cấp cơ hộiduy nhấtđào tạo đồng thời giúpnhững nước tham gianuôi dưỡngvàduy trìmối quan hệhợp tácrấtquan trọngđểđảm bảosựan toàncủa các tuyến đườngbiểnvàan ninhtrênthế giới.RIMPAC2016là lần tập trận thứ25bắt đầu từnăm 1971.
Chủ đềcủaRIMPAC2016là"Khả năng,thích ứng, hợp tác"Cácquốcgia tham dựvà các lực lượngsẽthực hiệnmộtloạt các khả năngvàthể hiệnsựlinh hoạtvốn cócủalực lượnghàng hải. Phạm vitừcứu trợthiên taivà các hoạt động kiểm soát an ninhhàng hảivà chiến đấuphức tạp.Chươngtrìnhđào tạoliên quanthực tếbao gồm các chiếndịch đổ bộpháo binh,tên lửa,bài tậpphòng thủchống tàu ngầmvàmáy bay,hoạt độngchống xâm nhập,hoạt động rà phá bom mìn, tiêu hủybom mìn,hoạt độnglặn biểnvàcứu hộ biển.
Tập trậnnăm naybao gồmcác lực lượngtừ 27 nước:Úc,Brazil,Brunei,Canada,Chile,Colombia,Đan Mạch,Pháp,Đức,Ấn Độ,Indonesia, Ý,Nhật bản,Malaysia,Mexico,Hà Lan,NewZealand,Na Uy,CộnghòanhândânTrung Quốc,Peru,Hàn Quốc,Philippines,Singapore,Thái Lan,Tonga,VươngQuốc AnhvàHoaKỳ.
Đâylà lần đầu tiênBrasil,Đan Mạch,Đứcvà Ýđangtham giavàoRIMPAC. Đặc biệtđầu tiênsẽbao gồm màn thực tập chỉ huyvàđiều khiểncác tình huống trên biểnkhác nhauvàkết hợp vớimột chiến dịchgiải cứutàu ngầm.Năm naysẽ thực tập các hoạt độngđổ bộtạimiền NamCalifornia, biểu diễnbắntên lửa đời mới từtàuchiến và trình diễn các tính năng nổi bật mới nhất của hạm độiđổ bộ của Hải quânHoa Kỳ
"Hạm đội xanh" nổi tiếng thế giới cuả Hải quân Mỹ sẽ đóng vai quan trọng ở RIMPAC, cũng là dịp trình diễn sáng kiếnnổi bậttoàn cầubằng cách sử dụng các biện pháp tiết kiệmnăng lượngvàhỗn hợp nhiên liệuthay thếđểchứng minhlàm thế nào là tối ưu hóanăng lượngsử dụng nhằm tăngkhả năng phục hồivàsẵn sànghoạt động.Trong thời gian tập trận,tất cả các đơn vịtham giahoạt động sẽ được cho thử xử dụngnhiên liệu pha trộn thay thế.
RIMPAC2016sẽđược chỉ huybởiPhóđô đốcNoraTyson,chỉ huy trưởnghạm đội3(C3F), hạm đội Thái bình Dương, sẽ làtư lệnhlực lượngđặc nhiệmkết hợp(CTF).Chuẩnđô đốcScottBishop cuả Hải quân Canadasẽphục vụnhưphótư lệnhcủaCTFvà Chuẩnđô đốcKojiManabe thuộc hải quân Nhật bản làphóchỉ huy.Cáclãnh đạochủ chốtcủalực lượngđa quốc giasẽbao gồm Thiếu tướngMalcolm WisecủaHải quânHoàng giaÚc,ChuẩntướngBlaiseFrawleycủa Không quânHoàng giaCanadasẽchỉ huycác đơn vimáy bayvàlực lượng đặc nhiệmđổ bộsẽđượclãnh đạobởi Phó đề đốc Hải quân Hoàng giaNewZealand,JamesGilmour.
Tháng 8/1978 vào cao điểm gió mùa ở Biển Đông, một chiếc ghe đánh cá rò rỉ nước giạt vào bờ biển Indonesia, 64 người tỵ nạn Việt Nam người ướt đẫm đói và mệt mỏi lê lết tiến vào bờ. Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam phải chịu đựng, ngoại trừ một điều trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng nhà lãnh đạo Mặt trận giải phóng miền Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.
Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của ông Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết, bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi ông Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy vỏ xe Michelin.
Mãi cho đến tháng 06/1980, ông Tương như Tảng mới trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch của ông tại cuộc họp báo Paris.
Trương như Tảng
Tự nhận mình “Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở miền Nam Việt Nam đã bị phản bội.”
Để đào thoát ông Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, tránh né công an Việt Nam và thậm chí cả một cuộc tấn công của hải tặc. Chấp nhận trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới!
Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, ông Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.
Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá mà ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi đời sống với căn biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một di dân ở Pháp.
Nói về lý do ông đào thoát: “Tôi không thể im lặng mãi, tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”
Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã tự quay lưng lại với nền giáo dục Sài Gòn giàu có và với nền học vấn đại học ở Paris của mình để gia nhập vào Mặt trận giải phóng miền Nam, ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.
Chẳng lâu sau đó ông bị bắt, bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi tù tội dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được thương lượng trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968, sau khi được thả ra tại Sài gòn ông trốn vào bưng và biến mất theo Việt cộng.
Khi chính phủ Cách mạnh lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập vào năm sau, ông Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các biệt kích của đội tìm-và-diệt của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã vài lần đã từng đột nhập đến gần công sự trong rừng của ông Tảng cỡ 100m, nhưng may mắn trong suốt thời gian chiến tranh ông yên ổn tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở miền Nam Việt Nam sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời sau này.
Chiến thắng đến như chúng ta đều biết, nhưng ông Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình, khi đứng duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng 05/1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên, "Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả". Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng đang đứng cùng trên khán đài về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường “Quân đội đã được thống nhất.”
Tướng Trần văn Trà họp báo sau khi chiếm Sàigòn.
Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với ông Tảng, ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những luật sư, những người mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại cải tạo. Những người dân thường gặp ông liên tục đặt câu hỏi với ông, cầu khẩn ông với tư cách bộ trưởng tư pháp, tìm cách can thiệp cho bạn bè và người thân của họ đang bị tịch thu tài sản hay cho những người bị bắt buộc phải di dân lên các vùng kinh tế mới.
Ông Tảng buồn bã nói: “Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” ông tiếp “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, còn quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”
Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông Tảng mô tả là “bạo lực và trả thù” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một, nhưng vào năm 1976 vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam và những người như ông không có cơ hội phản đối điều ấy.
“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực rất nhanh chóng” ông Tảng cho rằng “Ông Duẩn không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi có những người cương quyết phản đối các chính sách của ông ta”
Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Ông Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam đều bị đẩy đến việc sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.
Nhằm cố gắng giữ ông trong cơ cấu sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát khỏi Việt nam.
Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện biến mất của chính phủ Lâm thời của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Giờ đây ông tố cáo giới lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Ông nói những từ ngữ mị dân Mác-xít chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.
Ông nói thêm: “Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản, chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là gia đình trị -tức độc tài của các dòng họ- trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ”, để chứng minh điều này là đúng, ông Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.(?)
Sự trớ trêu cho ông Tảng khi nói về việc thành lập một mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung” tức giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông chắc biết rằng lịch sử lại bắt đầu lại từ đầu như từ hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Việt nam Cộng hòa.
Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn – đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam. Hí hí!
Chuyển ngữ từ “A revolution who fled the revolution” của Christian Science Monitor 08/1980.