JDOC - Joint Defense Operation Center, BCH hỗn hợp
ARVN - Army Republic Of Vietnam
TSNSA - Tan Son Nhut Sensitive Area, Yếu khu TSN
O.F. - Perimeter Post Identifier
VNAF - Vietnamese Air Force, Không quân Việt nam
R.F. - Regional Forces, Địa phương quân
P.F. - Popular Forces,
AFAT - Air Force Advisory Team, Cố vấn không quân
Task Force 35 - US Army Augmentation Forces From MACV Annex to 377th Security Police Squadron, Đặc nhiệm 35-lính tăng cường, biệt phái
Task Force Peter - US Army Augmentation Forces from MACV Annex In Support of MACV Compound, Đặc nhiệm Peter-lính biệt phái
TACC - Tactical Air Control Center, Trung Tâm hành quân chiến thuật
QRT - Quick Reaction Team, nhóm phản ứng nhanh
SAT - Security Alert Team, Nhóm cảnh sát an ninh
RSAT - Reserve Security Alert Team, nhóm cảnh sát an ninh hậu cứ
Hai nhóm Cảnh sát SAT và RSAT này gọi chung là "Quân cảnh"
L.F.T. - Light Fire Team, đội trực thăng vũ trang
J.G.S. - Joint General Staff (South Vietnamese High Command) bộ tham mưu liên quân
C.P. - Command Post, bộ chỉ huy
CSC - Central Security Control, BCH an ninh phi trường
M.G. - Machine Gun, đại liên
R.P.G. - Rocket Propelled Grenade, B40
H.E. - High Explosive
POL. - Kho xăng dầu
Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017
Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017
TSN-68, phần 3
12. (C) Rút kinh nghiệm:
Khái niệm căn cứ TSN chỉ có thể bị xâm nhập bởi các đơn vị nhỏ và địch chỉ có khả năng hoạt động quy mô nhỏ ở khu vực lân cận Tân Sơn Nhứt trở nên lỗi thời với trận tấn công ngày 31/1/1968 Tết Mậu thân, cùng loại chiến tranh mới của địch. Phải ngay lập tức đánh giá lại cách phòng thủ và mục tiêu cần thiết.
a. Các nhân viên quân cảnh và các đội tăng phái (TF-35) được trang bị kỹ năng cứu hỏa, kỷ luật và chiến thuật cơ bản, nhưng không đủ trang bị và đào tạo để chống lại cuộc tấn công của lực lượng lớn bộ binh địch. Cần phải tính đến huấn luyện bộ binh cho quân cảnh an ninh trước khi nhận nhiệm sở ở Đông Nam Á. Cần huấn luyện vũ khí hạng nặng, chiến thuật tấn công và cách hành quân. Việc huấn luyện hiện nay ở Mỹ và tại Đông Nam Á không trang bị đủ kỹ năng cho lực lượng quân cảnh An ninh để có thể đối phó hiệu quả các lực lượng địch có quy mô và được trang bị vũ khí như ta thấy trong trận vừa rồi.
b. Các khái niệm hiện nay về an ninh và bảo vệ cơ bản của Không lực Mỹ được thiết lập từ thượng cấp nên được xem xét lại. Theo chúng tôi, quá chú trọng vào phòng thủ cự ly gần, với vũ khí sẵn có của địch, phòng thủ gần là vô dụng. Lực lượng an ninh phải được di chuyển từ các khu vực nội vi và hạn chế ra khu chu vi vành đai, nơi mà họ có thể trực tiếp, hiệu quả hơn khi đụng độ địch quân. Hơn nữa, chúng ta phải có khả năng trả đũa với vũ khí được trang bị đúng cách. Kết luận, chiến thuật phòng thủ hiện tại của phi trường phải được đánh giá lại và thay đổi theo các chiến thuật của đối phương mà chúng ta vừa gặp.
c. Các quân nhân đã nhanh chóng phản công và ngăn chặn mũi tiến quân của đối phương. Điều này đạt được nhờ đang ở tình trạng báo động Đỏ tại thời điểm tấn công. Nếu tình trạng báo động dưới mức Đỏ hoặc Vàng, các mũi địch quân có thể đã thọc sâu vào trong căn cứ, địch có thể gây tổn thất lớn hơn nhiều. Chúng tôi khuyến nghị nên thành lập một đơn vị phản ứng dự phòng lớn hơn thay cho đội phản ứng dự phòng 12 người hiện nay (RSAT). Một lực lượng phản ứng 50 người được trang bị đầy đủ khả năng đáp ứng ngay lập tức như RSAT sẽ thực tế hơn, cho phép nhân viên Cảnh sát an ninh có đủ sức ngăn chặn địch ở khoảng cách chấp nhận được, xa hơn các mục tiêu ưu tiên.
d. Một khu vực hoả lực rõ ràng phải được thiết lập xung quanh chu vi vành đai của căn cứ. Nếu các vùng hoả lực được thiết lập thì địch sẽ không dễ dàng tiếp cận hàng rào vành đai và phần lớn hoạt động của vũ khí nhỏ sẽ không thể xảy ra. Những khu vực này cũng sẽ ngăn không cho địch vận chuyển vũ khí và đạn dược đến gần căn cứ TSN. Đề nghị rằng khu vực hỏa lực tự do phải được mở rộng ít nhất 1.000 mét xung quanh chu vi.
e. Nhân viên y tế cần sẵn sàng hơn. Việc đào tạo, quản lý và hoạt động của họ cần có khả năng hỗ trợ ngay lập tức cho việc phòng thủ cơ sở. Việc đưa các nhân viên y tế vào khu vực chiến sự và việc di tản thương binh là một vấn đề cấp bách trong trận đánh, nếu nhân viên y tế tiếp tục làm việc trong căn cứ và độc lập với các lực lượng còn lại, họ phải thiết lập và duy trì liên lạc chặt chẽ với quân cảnh an ninh để chắc chắn rằng họ nắm rõ về vị trí của các đơn vị phòng thủ và các tuyến đường của khu vực. Ngoài ra, nhân viên y tế phải được huấn luyện chiến đấu đầy đủ để có thể làm nhiệm vụ hiệu quả dưới hỏa lực địch.
f. Yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt hơn về vũ khí đối với lực lượng dân sự không phòng thủ ngay lập tức. Rất nhiều nhân viên dân sự này đã cản trở hoạt động của quân cảnh An ninh và trong một số trường hợp gần như bị nhầm lẫn với các lực lượng địch quân, nhân viên dân sự nên được hướng dẫn về tự bảo vệ, che chắn và không được giao vũ khí cho họ trừ khi ban bố báo động Đỏ (Tùy chọn II).
g. Báo cáo chiến trường tại thời điểm địch tấn công thâm nhập một số quân nhân của Tiểu Đoàn 2 VNCH đã bỏ chạy khỏi chốt phòng thủ. Đang điều tra về lý do của việc đào tẩu. Từ báo cáo này, rõ ràng là cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Việt nam trong nhiệm vụ phòng thủ căn cứ. Cần gấp một bộ chỉ huy chung cho việc phòng thủ trong vành đai.
h. Dữ liệu tình báo địa phương đã hoàn toàn bị vô hiệu, không có bất cứ thông tin liên quan đến kế hoạch tấn công và di chuyển của địch trong khu vực. Lực lượng phòng thủ phải luôn đặt trong tình trạng chuẩn bị cho tình huống thất bại tình báo như vừa rồi, trong tương lai không dựa quá nhiều vào tin tình báo.
i. Điều quan trọng nhất từ cuộc tấn công rồi, là nhu cầu thiết bị tốt hơn, cần phải có vũ khí mạnh hơn để có hiệu quả chống địch thâm nhập, tấn công:
- XM-148 (súng phóng lựu gắn kèm M16) rất khó hoạt động trong chiến đấu. Thao tác rất hạn chế trong đêm vì thiết kế của chúng không thể nhắm mục tiêu trong bóng tối, hoàn toàn vô dụng trong đêm tối. Đề nghị đưa phóng lựu M-79 vào cấp số không quân, và cần nhiều chủng đạn để sử dụng tối đa hoả lực (Nổ mạnh, chiếu sáng, đạn cháy...). Đề nghị thẩm định lại bộ nhắm của XM-148 và hiệu chỉnh ngay lập tức để có thể tác xạ đêm có hiệu quả.
- Đạn cối chiếu sáng cần cho chiếu sáng trực tiếp và đạn nổ mạnh HE cần có nhằm chống lại các lực lượng tấn công và các vị trí hỏa lực của địch quân.
- Các loại cối, đại bác không giật là vũ khí rất tốt trong việc tiêu diệt địch ở các vị trí nằm giữa phía tây và bên trong lô cốt 051. Nếu có các vũ khí này dùng để cầm chân địch, cuộc phản công đã được bắt đầu sớm hơn nhiều và tổn thất đã thấp hơn.
- Cần một số tên lửa hạng nhẹ, súng chống tăng hạng nhẹ (M72) được coi là lý tưởng để tiêu diệt các vị trí của địch. M72 nên được trang bị cho lực lượng an ninh, vũ khí dễ dàng sử dụng và dùng một lần. Cần trang bị ngay tức khắc.
- Cùng với trang bị vũ khí nặng hơn việc vận chuyển an toàn thiết bị và quân nhân cũng cần thiết. Các xe bọc thép (M113) là phương tiện thích hợp nhất cho việc chuyên chở này. Cần có để vận chuyển lính đến khu vực bị tấn công, vũ khí hạng nặng hỗ trợ và di chuyển thương binh. Mặc dù không mang lại an toàn tuyệt đối, nhưng nó sẽ bảo vệ khỏi các vũ khí tự động cỡ nhỏ.
- Rõ ràng hệ thống truyền tin hiện nay của Cảnh sát an ninh sử dụng là hoàn toàn không đạt yêu cầu, cần một hệ thống đủ mạnh để có thể liên lạc được tất cả các đơn vị liên quan đến phòng thủ, cần lắp đặt hệ thống với khả năng hoạt động dài giờ, không nhiễu tần số nhau, nhiều kênh liên lạc trong trường hợp căn cứ bị tấn công.
- Cần ngay lập tức hệ thống liên lạc trực tiếp với các đơn vị hỗ trợ (LFT, AC-47, Flare Ships, vv). Đây là điều cần thiết để có hiệu quả tối đa cho việc hỗ trợ tại hiện trường, giai đoạn đầu của trận chiến, yêu cầu và hướng dẫn hỏa lực hỗ trợ đã phải chuyển tiếp từ đơn vị tại hiện trường qua các kênh radio của quân cảnh an ninh tới JDOC, sau đó mới chuyển đến các đơn vị hỗ trợ, sự chậm trễ như trên đã làm cho hỗ trợ kém hiệu quả hơn so với liên lạc trực tiếp.
J. Kinh nghiệm trên đây là ở chiến trường Đông nam Á, Chúng tôi không ngụ ý rằng những khuyến nghị này sẽ áp dụng rộng rãi trong Không lực Mỹ.
(...phần này chưa giải mật...)
13. (U) Phân loại mật:
Báo cáo này được phân loại là mật/không báo cho đồng minh, vì nó phản ánh các thông tin chi tiết đến thiệt hại quân lực Mỹ do cuộc tấn công của địch và các biện pháp chống lại đối phương, chỉ được sao chép lại tài liệu này toàn bộ hoặc một phần khi có cho phép.
CHỈ HUY TRƯỞNG
BILLY J. CARTER, Lt Col, USAF
Trưởng phòng Quân cảnh An ninh.
Còn, 42
Khái niệm căn cứ TSN chỉ có thể bị xâm nhập bởi các đơn vị nhỏ và địch chỉ có khả năng hoạt động quy mô nhỏ ở khu vực lân cận Tân Sơn Nhứt trở nên lỗi thời với trận tấn công ngày 31/1/1968 Tết Mậu thân, cùng loại chiến tranh mới của địch. Phải ngay lập tức đánh giá lại cách phòng thủ và mục tiêu cần thiết.
a. Các nhân viên quân cảnh và các đội tăng phái (TF-35) được trang bị kỹ năng cứu hỏa, kỷ luật và chiến thuật cơ bản, nhưng không đủ trang bị và đào tạo để chống lại cuộc tấn công của lực lượng lớn bộ binh địch. Cần phải tính đến huấn luyện bộ binh cho quân cảnh an ninh trước khi nhận nhiệm sở ở Đông Nam Á. Cần huấn luyện vũ khí hạng nặng, chiến thuật tấn công và cách hành quân. Việc huấn luyện hiện nay ở Mỹ và tại Đông Nam Á không trang bị đủ kỹ năng cho lực lượng quân cảnh An ninh để có thể đối phó hiệu quả các lực lượng địch có quy mô và được trang bị vũ khí như ta thấy trong trận vừa rồi.
b. Các khái niệm hiện nay về an ninh và bảo vệ cơ bản của Không lực Mỹ được thiết lập từ thượng cấp nên được xem xét lại. Theo chúng tôi, quá chú trọng vào phòng thủ cự ly gần, với vũ khí sẵn có của địch, phòng thủ gần là vô dụng. Lực lượng an ninh phải được di chuyển từ các khu vực nội vi và hạn chế ra khu chu vi vành đai, nơi mà họ có thể trực tiếp, hiệu quả hơn khi đụng độ địch quân. Hơn nữa, chúng ta phải có khả năng trả đũa với vũ khí được trang bị đúng cách. Kết luận, chiến thuật phòng thủ hiện tại của phi trường phải được đánh giá lại và thay đổi theo các chiến thuật của đối phương mà chúng ta vừa gặp.
c. Các quân nhân đã nhanh chóng phản công và ngăn chặn mũi tiến quân của đối phương. Điều này đạt được nhờ đang ở tình trạng báo động Đỏ tại thời điểm tấn công. Nếu tình trạng báo động dưới mức Đỏ hoặc Vàng, các mũi địch quân có thể đã thọc sâu vào trong căn cứ, địch có thể gây tổn thất lớn hơn nhiều. Chúng tôi khuyến nghị nên thành lập một đơn vị phản ứng dự phòng lớn hơn thay cho đội phản ứng dự phòng 12 người hiện nay (RSAT). Một lực lượng phản ứng 50 người được trang bị đầy đủ khả năng đáp ứng ngay lập tức như RSAT sẽ thực tế hơn, cho phép nhân viên Cảnh sát an ninh có đủ sức ngăn chặn địch ở khoảng cách chấp nhận được, xa hơn các mục tiêu ưu tiên.
d. Một khu vực hoả lực rõ ràng phải được thiết lập xung quanh chu vi vành đai của căn cứ. Nếu các vùng hoả lực được thiết lập thì địch sẽ không dễ dàng tiếp cận hàng rào vành đai và phần lớn hoạt động của vũ khí nhỏ sẽ không thể xảy ra. Những khu vực này cũng sẽ ngăn không cho địch vận chuyển vũ khí và đạn dược đến gần căn cứ TSN. Đề nghị rằng khu vực hỏa lực tự do phải được mở rộng ít nhất 1.000 mét xung quanh chu vi.
e. Nhân viên y tế cần sẵn sàng hơn. Việc đào tạo, quản lý và hoạt động của họ cần có khả năng hỗ trợ ngay lập tức cho việc phòng thủ cơ sở. Việc đưa các nhân viên y tế vào khu vực chiến sự và việc di tản thương binh là một vấn đề cấp bách trong trận đánh, nếu nhân viên y tế tiếp tục làm việc trong căn cứ và độc lập với các lực lượng còn lại, họ phải thiết lập và duy trì liên lạc chặt chẽ với quân cảnh an ninh để chắc chắn rằng họ nắm rõ về vị trí của các đơn vị phòng thủ và các tuyến đường của khu vực. Ngoài ra, nhân viên y tế phải được huấn luyện chiến đấu đầy đủ để có thể làm nhiệm vụ hiệu quả dưới hỏa lực địch.
f. Yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt hơn về vũ khí đối với lực lượng dân sự không phòng thủ ngay lập tức. Rất nhiều nhân viên dân sự này đã cản trở hoạt động của quân cảnh An ninh và trong một số trường hợp gần như bị nhầm lẫn với các lực lượng địch quân, nhân viên dân sự nên được hướng dẫn về tự bảo vệ, che chắn và không được giao vũ khí cho họ trừ khi ban bố báo động Đỏ (Tùy chọn II).
g. Báo cáo chiến trường tại thời điểm địch tấn công thâm nhập một số quân nhân của Tiểu Đoàn 2 VNCH đã bỏ chạy khỏi chốt phòng thủ. Đang điều tra về lý do của việc đào tẩu. Từ báo cáo này, rõ ràng là cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Việt nam trong nhiệm vụ phòng thủ căn cứ. Cần gấp một bộ chỉ huy chung cho việc phòng thủ trong vành đai.
h. Dữ liệu tình báo địa phương đã hoàn toàn bị vô hiệu, không có bất cứ thông tin liên quan đến kế hoạch tấn công và di chuyển của địch trong khu vực. Lực lượng phòng thủ phải luôn đặt trong tình trạng chuẩn bị cho tình huống thất bại tình báo như vừa rồi, trong tương lai không dựa quá nhiều vào tin tình báo.
i. Điều quan trọng nhất từ cuộc tấn công rồi, là nhu cầu thiết bị tốt hơn, cần phải có vũ khí mạnh hơn để có hiệu quả chống địch thâm nhập, tấn công:
- XM-148 (súng phóng lựu gắn kèm M16) rất khó hoạt động trong chiến đấu. Thao tác rất hạn chế trong đêm vì thiết kế của chúng không thể nhắm mục tiêu trong bóng tối, hoàn toàn vô dụng trong đêm tối. Đề nghị đưa phóng lựu M-79 vào cấp số không quân, và cần nhiều chủng đạn để sử dụng tối đa hoả lực (Nổ mạnh, chiếu sáng, đạn cháy...). Đề nghị thẩm định lại bộ nhắm của XM-148 và hiệu chỉnh ngay lập tức để có thể tác xạ đêm có hiệu quả.
- Đạn cối chiếu sáng cần cho chiếu sáng trực tiếp và đạn nổ mạnh HE cần có nhằm chống lại các lực lượng tấn công và các vị trí hỏa lực của địch quân.
- Các loại cối, đại bác không giật là vũ khí rất tốt trong việc tiêu diệt địch ở các vị trí nằm giữa phía tây và bên trong lô cốt 051. Nếu có các vũ khí này dùng để cầm chân địch, cuộc phản công đã được bắt đầu sớm hơn nhiều và tổn thất đã thấp hơn.
- Cần một số tên lửa hạng nhẹ, súng chống tăng hạng nhẹ (M72) được coi là lý tưởng để tiêu diệt các vị trí của địch. M72 nên được trang bị cho lực lượng an ninh, vũ khí dễ dàng sử dụng và dùng một lần. Cần trang bị ngay tức khắc.
- Cùng với trang bị vũ khí nặng hơn việc vận chuyển an toàn thiết bị và quân nhân cũng cần thiết. Các xe bọc thép (M113) là phương tiện thích hợp nhất cho việc chuyên chở này. Cần có để vận chuyển lính đến khu vực bị tấn công, vũ khí hạng nặng hỗ trợ và di chuyển thương binh. Mặc dù không mang lại an toàn tuyệt đối, nhưng nó sẽ bảo vệ khỏi các vũ khí tự động cỡ nhỏ.
- Rõ ràng hệ thống truyền tin hiện nay của Cảnh sát an ninh sử dụng là hoàn toàn không đạt yêu cầu, cần một hệ thống đủ mạnh để có thể liên lạc được tất cả các đơn vị liên quan đến phòng thủ, cần lắp đặt hệ thống với khả năng hoạt động dài giờ, không nhiễu tần số nhau, nhiều kênh liên lạc trong trường hợp căn cứ bị tấn công.
- Cần ngay lập tức hệ thống liên lạc trực tiếp với các đơn vị hỗ trợ (LFT, AC-47, Flare Ships, vv). Đây là điều cần thiết để có hiệu quả tối đa cho việc hỗ trợ tại hiện trường, giai đoạn đầu của trận chiến, yêu cầu và hướng dẫn hỏa lực hỗ trợ đã phải chuyển tiếp từ đơn vị tại hiện trường qua các kênh radio của quân cảnh an ninh tới JDOC, sau đó mới chuyển đến các đơn vị hỗ trợ, sự chậm trễ như trên đã làm cho hỗ trợ kém hiệu quả hơn so với liên lạc trực tiếp.
J. Kinh nghiệm trên đây là ở chiến trường Đông nam Á, Chúng tôi không ngụ ý rằng những khuyến nghị này sẽ áp dụng rộng rãi trong Không lực Mỹ.
(...phần này chưa giải mật...)
13. (U) Phân loại mật:
Báo cáo này được phân loại là mật/không báo cho đồng minh, vì nó phản ánh các thông tin chi tiết đến thiệt hại quân lực Mỹ do cuộc tấn công của địch và các biện pháp chống lại đối phương, chỉ được sao chép lại tài liệu này toàn bộ hoặc một phần khi có cho phép.
CHỈ HUY TRƯỞNG
BILLY J. CARTER, Lt Col, USAF
Trưởng phòng Quân cảnh An ninh.
![]() |
| Hình mạng, Đặc công. |
Còn, 42
Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017
TSN-68, phần 2
8. (C) Hiện trạng Cảnh sát phi trường:
a. Tổng số Quân cảnh thực chiến vào thời điểm chiến cuộc là 890 nhân viên. Trong tổng số này, có gồm cả 75 nhân viên, hoặc 8% thực chiến là quân nhân tăng phái, đang nghỉ phép, trị bệnh, hoặc tình trạng nghỉ khẩn cấp hay đang chờ hoàn tất khoá đào tạo. (Nhóm tăng phái gồm khoảng năm mươi người lính được tăng phái cho 3 đơn vị nơi xa khuất).
Lực lượng sẵn sàng chiến đấu hiện tại còn lại là 815 quân nhân, 457 người trong số đó đã có mặt tại nhiệm sở vào thời điểm địch tấn công (56%).
Sau khi đặt trong tình trạng báo động Đỏ lúc 1730 giờ, ngày 30/1/1968, tám đội phản ứng nhanh, mỗi đội 13 người được thành lập, trang bị và sẵn sàng để đáp ứng ngay lập tức trong trường hợp bị tấn công, tổng cộng nhóm này là 104 người, tức 13% sức mạnh của số quân nhân sẵn sàng chiến đấu.
262 Nhân viên quân cảnh còn lại, hay 32% sức mạnh của lực lượng sẵn sàng chiến đấu, được trang bị và trực chiến trong các doanh trại để sẵn sàng phản ứng ngay lập tức khi có lệnh.
b. Khi triển khai báo động Đỏ (Option I), ba đội đặc nhiệm Hoa Kỳ (Task Force 35, lực lượng tăng phái) đã được báo động và đặt ở tình trạng chờ 5 phút (five-minute standby status aka sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào), được dùng làm lực lượng dự phòng cho đội Quân cảnh 377. Các trung đội này, bao gồm mỗi trung đội 30 người, ngay lập tức được đặt dưới sự chỉ huy của chỉ huy trưởng đội 377 Quân cảnh An ninh, theo đúng với các kế hoạch phòng thủ được công bố và thông qua.
c. Với lực lượng hiện có, các đơn vị được chia thành hai ca trực chiến. Ca trực đêm, là ca đang thi hành nhiệm vụ tại thời điểm địch tấn công, gồm có hai sĩ quan và 446 quân nhân. Danh sách như sau:
(Phần này là danh sách, từng khu vực và số lính hiện diện tại đó, không cần thiết phải dịch có thể đọc trực tiếp từ Anh ngữ)
... chi tiết trong link (http://www.tsna.org/afteraction/jan311968.html)
Tóm tắt phần điểm danh quân số Mỹ là:
Quân nhân trực chiến tại các chốt, đơn vị 457
8 nhóm phản ứng nhanh, mỗi nhóm 13 người 104
Số cảnh sát an ninh 254
3 trung đội dự bị, mỗi trung đội 30 người 90
tổng cộng lực lượng Mỹ tham chiến là: 905 quân nhân.
9. (C) Diễn tiến trận đánh: - Đọc mô tả 'chi tiết trận đánh' đính kèm # 1
10. (C) Kết quả:
a. Thiệt hại phía địch:
- Phiá trong hàng rào vành đai, (đếm xác) lực lượng địch bị giết tại chỗ 157, và bắt được 9 tù binh do VNCH bắt giữ.
- Ngoài hàng rào chu vi vành đai, báo cáo đếm được 267 xác đối phương (việc đếm xác phải ngưng do các nhu cầu hoạt động cấp bách hơn).
- Tất cả các tù binh và tử sỹ này nằm trong số các đơn vị đặc công C-10, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 16 và Tiểu đoàn 90, tất cả đều được xác định phiên hiệu trong đoạn trên.
- Tiểu Đoàn 269 được xác định trong phần trên, đụng độ trực tiếp với Tiểu Đoàn 53 An ninh phi trường và được sự hỗ trợ của Trực thăng vũ trang do bộ tư lệnh liên hợp gởi tới, bị thiệt hại với 286 địch bị giết (do phía Hoa Kỳ đếm xác).
- Đơn vị VNCH và Mỹ trấn giữ cửa số 10 (gồm Tiểu đoàn 2 VNCH và đội đặc nhiệm Peter) báo cáo đếm được hơn 82 + xác địch quân.
- Tổng số thiệt hại của địch, kể cả số 170+ xác phiá trong hàng rào phòng thủ được đề cập đến trong đoạn 7b ở trên, tổng số là 962+ địch quân tử trận.
b. Tổn thất phía ta:
Lực lượng Hoa Kỳ:
USAF (Quân cảnh an ninh) 4 tử trận, 12 bị thương
US Army (Quân đội Hoa Kỳ) 19 tử trận, 75 bị thương
Quân đội VNCH:
Không quân VN 5 tử trận, 12 bị thương
Bộ binh VN 27 tử trận, 67 bị thương.
Tổng kết: Đồng minh, 55 tử trận, 163 bị thương.
c. Vũ khí: vũ khí địch thu lượm được trong chu vi vành đai gồm 145 súng và khí tài, trong đó có 43 vũ khí cộng đồng. Không có số liệu cho số vũ khí tịch thu được phiá ngoài vòng rào vành đai.
d. Máy bay Thiệt hại:
Máy bay Hoa Kỳ:
-AC-47 (USAF) 9
-C-47 (USAF) 1
-C-54 (USAF) 1
-C-117 (USN) 2
Tất cả chỉ bị thiệt hại nhẹ, không có máy bay nào bị phá hủy.
Không quân VN: Không bị thiệt hại.
e. Thiệt hại cơ sở:
- 4 conex sơn bị cháy (tổn thất)
- 1 xe Van bị đốt cháy (tổn thất)
- 1 Nhà di động bị đốt cháy (tổn thất)
- 1 nhà kho bị hư hỏng (sửa chữa được)
- Khoảng 400 ft cáp điện bị hư hỏng do cháy cỏ (sửa chữa được)
- Khoảng 50 đèn dọc sân bay (sửa chữa được)
f. Đường băng: Một lỗ thủng 3m x 10cm ở rìa đường băng bởi đạn nổ, đường băng vẫn hoạt động và thiệt hại đã được sửa trong ngày.
g. Báo cáo vũ khí tịch thu:
Số vũ khí tịch thu trong vòng rào vành đai:
- 22 mìn bẫy tự chế
- 8 mìn định hướng
- 12 mìn định hướng DH10
- 37 súng B40
- 84 trái B-40
- 38 tên lửa USSR B41
- 103 lựu đạn RKC-3TG
- 95 lựu đạn chày VC
- 40 lựu đạn tự chế của VC
- 13 khối thuốc nổ plastic
- 142 khối thuốc nổ TNT
- 17 Túi bộc phá
- 12.000 viên đạn rời 7.62
- 2.000 viên đạn trong băng 7.62
- 5 khẩu cối 81mm của Mỹ, đạn HE
- 45 lựu đạn US M26
- 15 trái sáng 81mm của Mỹ
- 65 viên đạn M79 của Mỹ
- 19 mìn claymore
- 5 khẩu súng trường 57mm của Mỹ
- 47 viên 50mm
Các đơn vị Xử lý Vật liệu nổ của Hoa Kỳ (EOD), thu thập và phá hủy các vật liệu nổ trong khu vực của hàng rào phía tây do địch quân bỏ lại, ước tính khoảng 100 lbs thuốc nổ.
11. (C) Hành động tiếp diễn của địch:
Hỏa lực nhẹ, bắn quấy rối và đối phương di chuyển xung quanh vòng đai tiếp tục với trận pháo kích Căn cứ Tân Sơn Nhất ngày 18/2/1968. Có 10 vụ báo cáo trong bốn ngày sau từ phòng cảnh báo an ninh (SAT), đơn vị này đã chạm súng địch quân.
Hai cuộc tấn công ghi nhận các vụ nổ thứ cấp ở vị trí của đối phương. Các lực lượng VNCH hoạt động bên ngoài vòng đai thường xuyên chạm súng với địch, các cuộc chạm súng nặng-nhẹ nhưng đều là một phần trong kế hoạch tấn công vào TSN và khu vực Sài Gòn. Tính đến ngày 23/2/1968, tổng số tử sỹ của địch đếm được chung quanh vùng Sài gòn là 5.519 xác.
Các hoạt động càn quét, dọn dẹp, và giải phóng do phiá VNCH tiếp diễn cho đến 4/3/1968.
Động thái của địch quân chứng minh rõ ràng cho những phán đoán rằng họ không hề có ý định rút khỏi khu vực và để cho tình hình trở lại an ninh như trước khi chiến sự xảy ra.
Những đánh giá này được hỗ trợ thêm bởi các tin tình báo hậu chiến cho thấy lực lượng tấn công của Việt Cộng không hề có kế hoạch rút lui các đơn vị của họ.
Còn, 42
a. Tổng số Quân cảnh thực chiến vào thời điểm chiến cuộc là 890 nhân viên. Trong tổng số này, có gồm cả 75 nhân viên, hoặc 8% thực chiến là quân nhân tăng phái, đang nghỉ phép, trị bệnh, hoặc tình trạng nghỉ khẩn cấp hay đang chờ hoàn tất khoá đào tạo. (Nhóm tăng phái gồm khoảng năm mươi người lính được tăng phái cho 3 đơn vị nơi xa khuất).
Lực lượng sẵn sàng chiến đấu hiện tại còn lại là 815 quân nhân, 457 người trong số đó đã có mặt tại nhiệm sở vào thời điểm địch tấn công (56%).
Sau khi đặt trong tình trạng báo động Đỏ lúc 1730 giờ, ngày 30/1/1968, tám đội phản ứng nhanh, mỗi đội 13 người được thành lập, trang bị và sẵn sàng để đáp ứng ngay lập tức trong trường hợp bị tấn công, tổng cộng nhóm này là 104 người, tức 13% sức mạnh của số quân nhân sẵn sàng chiến đấu.
262 Nhân viên quân cảnh còn lại, hay 32% sức mạnh của lực lượng sẵn sàng chiến đấu, được trang bị và trực chiến trong các doanh trại để sẵn sàng phản ứng ngay lập tức khi có lệnh.
b. Khi triển khai báo động Đỏ (Option I), ba đội đặc nhiệm Hoa Kỳ (Task Force 35, lực lượng tăng phái) đã được báo động và đặt ở tình trạng chờ 5 phút (five-minute standby status aka sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào), được dùng làm lực lượng dự phòng cho đội Quân cảnh 377. Các trung đội này, bao gồm mỗi trung đội 30 người, ngay lập tức được đặt dưới sự chỉ huy của chỉ huy trưởng đội 377 Quân cảnh An ninh, theo đúng với các kế hoạch phòng thủ được công bố và thông qua.
c. Với lực lượng hiện có, các đơn vị được chia thành hai ca trực chiến. Ca trực đêm, là ca đang thi hành nhiệm vụ tại thời điểm địch tấn công, gồm có hai sĩ quan và 446 quân nhân. Danh sách như sau:
(Phần này là danh sách, từng khu vực và số lính hiện diện tại đó, không cần thiết phải dịch có thể đọc trực tiếp từ Anh ngữ)
... chi tiết trong link (http://www.tsna.org/afteraction/jan311968.html)
Tóm tắt phần điểm danh quân số Mỹ là:
Quân nhân trực chiến tại các chốt, đơn vị 457
8 nhóm phản ứng nhanh, mỗi nhóm 13 người 104
Số cảnh sát an ninh 254
3 trung đội dự bị, mỗi trung đội 30 người 90
tổng cộng lực lượng Mỹ tham chiến là: 905 quân nhân.
9. (C) Diễn tiến trận đánh: - Đọc mô tả 'chi tiết trận đánh' đính kèm # 1
10. (C) Kết quả:
a. Thiệt hại phía địch:
- Phiá trong hàng rào vành đai, (đếm xác) lực lượng địch bị giết tại chỗ 157, và bắt được 9 tù binh do VNCH bắt giữ.
- Ngoài hàng rào chu vi vành đai, báo cáo đếm được 267 xác đối phương (việc đếm xác phải ngưng do các nhu cầu hoạt động cấp bách hơn).
- Tất cả các tù binh và tử sỹ này nằm trong số các đơn vị đặc công C-10, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 16 và Tiểu đoàn 90, tất cả đều được xác định phiên hiệu trong đoạn trên.
- Tiểu Đoàn 269 được xác định trong phần trên, đụng độ trực tiếp với Tiểu Đoàn 53 An ninh phi trường và được sự hỗ trợ của Trực thăng vũ trang do bộ tư lệnh liên hợp gởi tới, bị thiệt hại với 286 địch bị giết (do phía Hoa Kỳ đếm xác).
- Đơn vị VNCH và Mỹ trấn giữ cửa số 10 (gồm Tiểu đoàn 2 VNCH và đội đặc nhiệm Peter) báo cáo đếm được hơn 82 + xác địch quân.
- Tổng số thiệt hại của địch, kể cả số 170+ xác phiá trong hàng rào phòng thủ được đề cập đến trong đoạn 7b ở trên, tổng số là 962+ địch quân tử trận.
b. Tổn thất phía ta:
Lực lượng Hoa Kỳ:
USAF (Quân cảnh an ninh) 4 tử trận, 12 bị thương
US Army (Quân đội Hoa Kỳ) 19 tử trận, 75 bị thương
Quân đội VNCH:
Không quân VN 5 tử trận, 12 bị thương
Bộ binh VN 27 tử trận, 67 bị thương.
Tổng kết: Đồng minh, 55 tử trận, 163 bị thương.
c. Vũ khí: vũ khí địch thu lượm được trong chu vi vành đai gồm 145 súng và khí tài, trong đó có 43 vũ khí cộng đồng. Không có số liệu cho số vũ khí tịch thu được phiá ngoài vòng rào vành đai.
d. Máy bay Thiệt hại:
Máy bay Hoa Kỳ:
-AC-47 (USAF) 9
-C-47 (USAF) 1
-C-54 (USAF) 1
-C-117 (USN) 2
Tất cả chỉ bị thiệt hại nhẹ, không có máy bay nào bị phá hủy.
Không quân VN: Không bị thiệt hại.
e. Thiệt hại cơ sở:
- 4 conex sơn bị cháy (tổn thất)
- 1 xe Van bị đốt cháy (tổn thất)
- 1 Nhà di động bị đốt cháy (tổn thất)
- 1 nhà kho bị hư hỏng (sửa chữa được)
- Khoảng 400 ft cáp điện bị hư hỏng do cháy cỏ (sửa chữa được)
- Khoảng 50 đèn dọc sân bay (sửa chữa được)
f. Đường băng: Một lỗ thủng 3m x 10cm ở rìa đường băng bởi đạn nổ, đường băng vẫn hoạt động và thiệt hại đã được sửa trong ngày.
g. Báo cáo vũ khí tịch thu:
Số vũ khí tịch thu trong vòng rào vành đai:
- 22 mìn bẫy tự chế
- 8 mìn định hướng
- 12 mìn định hướng DH10
- 37 súng B40
- 84 trái B-40
- 38 tên lửa USSR B41
- 103 lựu đạn RKC-3TG
- 95 lựu đạn chày VC
- 40 lựu đạn tự chế của VC
- 13 khối thuốc nổ plastic
- 142 khối thuốc nổ TNT
- 17 Túi bộc phá
- 12.000 viên đạn rời 7.62
- 2.000 viên đạn trong băng 7.62
- 5 khẩu cối 81mm của Mỹ, đạn HE
- 45 lựu đạn US M26
- 15 trái sáng 81mm của Mỹ
- 65 viên đạn M79 của Mỹ
- 19 mìn claymore
- 5 khẩu súng trường 57mm của Mỹ
- 47 viên 50mm
Các đơn vị Xử lý Vật liệu nổ của Hoa Kỳ (EOD), thu thập và phá hủy các vật liệu nổ trong khu vực của hàng rào phía tây do địch quân bỏ lại, ước tính khoảng 100 lbs thuốc nổ.
11. (C) Hành động tiếp diễn của địch:
Hỏa lực nhẹ, bắn quấy rối và đối phương di chuyển xung quanh vòng đai tiếp tục với trận pháo kích Căn cứ Tân Sơn Nhất ngày 18/2/1968. Có 10 vụ báo cáo trong bốn ngày sau từ phòng cảnh báo an ninh (SAT), đơn vị này đã chạm súng địch quân.
Hai cuộc tấn công ghi nhận các vụ nổ thứ cấp ở vị trí của đối phương. Các lực lượng VNCH hoạt động bên ngoài vòng đai thường xuyên chạm súng với địch, các cuộc chạm súng nặng-nhẹ nhưng đều là một phần trong kế hoạch tấn công vào TSN và khu vực Sài Gòn. Tính đến ngày 23/2/1968, tổng số tử sỹ của địch đếm được chung quanh vùng Sài gòn là 5.519 xác.
Các hoạt động càn quét, dọn dẹp, và giải phóng do phiá VNCH tiếp diễn cho đến 4/3/1968.
Động thái của địch quân chứng minh rõ ràng cho những phán đoán rằng họ không hề có ý định rút khỏi khu vực và để cho tình hình trở lại an ninh như trước khi chiến sự xảy ra.
Những đánh giá này được hỗ trợ thêm bởi các tin tình báo hậu chiến cho thấy lực lượng tấn công của Việt Cộng không hề có kế hoạch rút lui các đơn vị của họ.
![]() |
| Hình mạng, hoả lực từ máy bay. |
Còn, 42
Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017
Ông trung tá.
Ông người mập mạp, lùn cao cỡ 1,6m. Tôi cao 1,75m ông đứng cỡ hơn vai tôi nên đóan thế thôi! Ông là trung tá chỉ huy trưởng căn cứ Trảng lớn, Tây ninh. Lùn và không được đẹp trai lắm!
Ông rất qúy bọn tôi, kể chút về bọn lính trẻ này: Chúng tôi lính biệt đội, đi toán 4 người lên đỉnh Bà đen, mỗi toán phải nằm trên đỉnh nửa tháng để tiếp sóng cho khu vực hoạt động của phòng 7 chúng tôi ở quân đoàn 3, tức vùng Sài gòn, Bình dương, Tây ninh. Những khi đổi toán, bọn tôi phải nằm chờ ở Tây ninh để đi trực thăng từ phi trường B16 Tây ninh hoặc phi trường Trảng lớn để lên đỉnh núi.
Ông trung tá, mỗi khi biết chúng tôi đến đơn vị trình sư vụ lệnh hành quân, luôn xếp cho chúng tôi phòng ngủ ngay kế bên phòng của ông, đây là một đặc ân mà chỉ riêng bọn lính trẻ chúng tôi được hưởng! Ông chắc thích ngành của chúng tôi nên đã có những đặc ân riêng cho ở bên cạnh.
Những lúc chờ phi vụ, bọn tôi rảnh rỗi ra thị trấn Tây ninh lang thang (một đoạn tình với cô bé Ấn độ là thời điểm này) kiếm ăn, tìm gái, hí hí
Trong Trảng lớn, ngay cả phòng của trung tá chỉ huy trưởng cũng chỉ là một trong những căn nhà tiền chế của Mỹ cất, mái tôn vách bằng ván ép và phòng sau này khi VN xử dụng thì được ngăn bằng những miếng ván thùng đạn, là loại ván thông dùng để đóng thùng cho quân đội, sau khi lấy đồ ra, ván được tận dụng (bề ngang khoảng 15cm dài cỡ 1m và dầy cỡ 2cm.)
Đêm đó, bọn tôi đang chuẩn bị ngủ thì nghe tiếng động bên phòng ông trung tá, tường ngăn giữa phòng ông và bọn tôi đóng bằng ván thùng đạn, với những khe hở đủ để bọn tôi nhìn rõ những gì xảy ra bên kia.
Thằng trưởng toán ra hiệu cho bọn tôi nhìn, hí hí. Trời ơi! tôi từ ngày rời trường học vào lính, chỉ những lúc có tiền mới đi chơi gái, cũng chỉ cởi quần áo leo lên làm lấy làm để rồi kéo quần đi ra trả tiền, không biết rằng trên đời còn thú ăn chơi khác nữa!
Phòng ông đèn sáng rực, một thân hình trắng muốt với mái tóc dài đen mướt phủ một góc giường, nàng nằm dạng ra giữa hai chân một vùng đen thẫm, ông trung tá úp mặt vào xì sụp, tiếng rên lúc to lúc nhỏ làm tôi cứng người như bị điện giật, bọn tôi im lặng như đang nằm phục kích chờ địch vào tầm bắn để khai hoả, thời gian như ngừng lại tôi chỉ cảm giác được sự chuyển động từ cái cơ thể trắng nuột kia uốn éo từ bên này qua bên kia, tiếng rên lúc to khi nhỏ trong không gian đêm lúc đó như được khuếch đại hơn, tai tôi ù đi. Điều đặc biệt cho buổi coi phim hôm đó là tôi không có ấn tượng gì với ông trung tá cả, trong khi ông ở ngay đó, hí hí
Không biết bao lâu, ông trung tá leo lên và nhấp nhổm, tôi đếm đúng 7 nhát (?), ông leo xuống. Người con gái sau khi ra sau rửa ráy, vào lại phòng trần truồng đứng trước gương, một thân hình trắng muốt với tóc lúc này thả dài qua mông, nàng đứng trước gương chải lại tóc, tôi nhìn kỹ cỡ 30, ông trung tá lúc này lại tới gần vẫn thỗn thện đứng gần cạ cạ, chuyện đến đây nhạt...hí hí
Ngay hôm sau, bọn tôi tranh thủ trước khi trực thăng đến, cả bọn phóng ra khu động cầu ngang ngay giữa thị trấn Tây ninh, giải toả nỗi lòng. Than ôi, chiều đó chúng tôi được trực thăng chuyển lên đỉnh Bà đen đổi toán, hai trong bốn thằng, tôi và một thằng nữa bị nổ nòng súng.
Một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó. Chuyện này lúc khác kể, hí hí
Bonus:
Kể tiếp nghen,
Cô gái này, hôm sau bọn tôi biết là bà chủ câu lạc bộ trong căn cứ, chồng chết, không nhớ rõ lắm hình như chồng đi lính chết?
Ban ngày gặp mặt cô ta rất đẹp, thân hình cân đối, cô ý cao hơn ông trung tá một chút, tối vào đây chỉ là nghiã vụ đóng thuế thôi, hí hí
Bọn tôi nhìn đứa nào cũng chảy nước dãi mà không dám mở miệng chọc ghẹo. Bà trung tá không ở căn cứ nên ông này tha hồ làm trời làm đất.
Phần tôi và thằng bạn,
Chừng mấy ngày sau bị nổ nòng súng, hành quân không mang theo trụ sinh nên cố gắng chịu được vài ngày, sau không chịu nổi phải khóc lóc với biệt đội trưởng tại hậu cứ xin tải thương.
Ông biệt đội trưởng, chắc thấy tội quá nên khai với quân đoàn bọn tôi bị thương cần trực thăng tải thương gấp, hí hí máy bay tới đưa bọn tôi xuống phi trường B16 (bên cạnh sân vận động Tây ninh) trực thăng vừa đáp xuống xe cứu thương quân đội hụ còi nhào tới, bọn tôi ba lô súng ống phóng qua bên kia cửa trực thăng chuồn mất ra thị xã.
Ra tới thị xã bằng xe lôi, hai thằng phóng ngay vào tiệm thuốc tây mua mỗi thằng một vỉ trụ sinh đặc trị (lâu quá quên tên rồi), con bé bán thuốc tây còn trẻ xinh gái cứ nhìn hai đứa bọn tôi cười mím chi, hí hí
Bọn tôi lang thang Tây ninh rồi đi quá giang quân xa về hậu cứ biệt đội ở Củ Chi trình diện, hết.
42,
Ông rất qúy bọn tôi, kể chút về bọn lính trẻ này: Chúng tôi lính biệt đội, đi toán 4 người lên đỉnh Bà đen, mỗi toán phải nằm trên đỉnh nửa tháng để tiếp sóng cho khu vực hoạt động của phòng 7 chúng tôi ở quân đoàn 3, tức vùng Sài gòn, Bình dương, Tây ninh. Những khi đổi toán, bọn tôi phải nằm chờ ở Tây ninh để đi trực thăng từ phi trường B16 Tây ninh hoặc phi trường Trảng lớn để lên đỉnh núi.
Ông trung tá, mỗi khi biết chúng tôi đến đơn vị trình sư vụ lệnh hành quân, luôn xếp cho chúng tôi phòng ngủ ngay kế bên phòng của ông, đây là một đặc ân mà chỉ riêng bọn lính trẻ chúng tôi được hưởng! Ông chắc thích ngành của chúng tôi nên đã có những đặc ân riêng cho ở bên cạnh.
Những lúc chờ phi vụ, bọn tôi rảnh rỗi ra thị trấn Tây ninh lang thang (một đoạn tình với cô bé Ấn độ là thời điểm này) kiếm ăn, tìm gái, hí hí
Trong Trảng lớn, ngay cả phòng của trung tá chỉ huy trưởng cũng chỉ là một trong những căn nhà tiền chế của Mỹ cất, mái tôn vách bằng ván ép và phòng sau này khi VN xử dụng thì được ngăn bằng những miếng ván thùng đạn, là loại ván thông dùng để đóng thùng cho quân đội, sau khi lấy đồ ra, ván được tận dụng (bề ngang khoảng 15cm dài cỡ 1m và dầy cỡ 2cm.)
Đêm đó, bọn tôi đang chuẩn bị ngủ thì nghe tiếng động bên phòng ông trung tá, tường ngăn giữa phòng ông và bọn tôi đóng bằng ván thùng đạn, với những khe hở đủ để bọn tôi nhìn rõ những gì xảy ra bên kia.
Thằng trưởng toán ra hiệu cho bọn tôi nhìn, hí hí. Trời ơi! tôi từ ngày rời trường học vào lính, chỉ những lúc có tiền mới đi chơi gái, cũng chỉ cởi quần áo leo lên làm lấy làm để rồi kéo quần đi ra trả tiền, không biết rằng trên đời còn thú ăn chơi khác nữa!
Phòng ông đèn sáng rực, một thân hình trắng muốt với mái tóc dài đen mướt phủ một góc giường, nàng nằm dạng ra giữa hai chân một vùng đen thẫm, ông trung tá úp mặt vào xì sụp, tiếng rên lúc to lúc nhỏ làm tôi cứng người như bị điện giật, bọn tôi im lặng như đang nằm phục kích chờ địch vào tầm bắn để khai hoả, thời gian như ngừng lại tôi chỉ cảm giác được sự chuyển động từ cái cơ thể trắng nuột kia uốn éo từ bên này qua bên kia, tiếng rên lúc to khi nhỏ trong không gian đêm lúc đó như được khuếch đại hơn, tai tôi ù đi. Điều đặc biệt cho buổi coi phim hôm đó là tôi không có ấn tượng gì với ông trung tá cả, trong khi ông ở ngay đó, hí hí
Không biết bao lâu, ông trung tá leo lên và nhấp nhổm, tôi đếm đúng 7 nhát (?), ông leo xuống. Người con gái sau khi ra sau rửa ráy, vào lại phòng trần truồng đứng trước gương, một thân hình trắng muốt với tóc lúc này thả dài qua mông, nàng đứng trước gương chải lại tóc, tôi nhìn kỹ cỡ 30, ông trung tá lúc này lại tới gần vẫn thỗn thện đứng gần cạ cạ, chuyện đến đây nhạt...hí hí
Ngay hôm sau, bọn tôi tranh thủ trước khi trực thăng đến, cả bọn phóng ra khu động cầu ngang ngay giữa thị trấn Tây ninh, giải toả nỗi lòng. Than ôi, chiều đó chúng tôi được trực thăng chuyển lên đỉnh Bà đen đổi toán, hai trong bốn thằng, tôi và một thằng nữa bị nổ nòng súng.
Một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó. Chuyện này lúc khác kể, hí hí
Bonus:
Kể tiếp nghen,
Cô gái này, hôm sau bọn tôi biết là bà chủ câu lạc bộ trong căn cứ, chồng chết, không nhớ rõ lắm hình như chồng đi lính chết?
Ban ngày gặp mặt cô ta rất đẹp, thân hình cân đối, cô ý cao hơn ông trung tá một chút, tối vào đây chỉ là nghiã vụ đóng thuế thôi, hí hí
Bọn tôi nhìn đứa nào cũng chảy nước dãi mà không dám mở miệng chọc ghẹo. Bà trung tá không ở căn cứ nên ông này tha hồ làm trời làm đất.
Phần tôi và thằng bạn,
Chừng mấy ngày sau bị nổ nòng súng, hành quân không mang theo trụ sinh nên cố gắng chịu được vài ngày, sau không chịu nổi phải khóc lóc với biệt đội trưởng tại hậu cứ xin tải thương.
Ông biệt đội trưởng, chắc thấy tội quá nên khai với quân đoàn bọn tôi bị thương cần trực thăng tải thương gấp, hí hí máy bay tới đưa bọn tôi xuống phi trường B16 (bên cạnh sân vận động Tây ninh) trực thăng vừa đáp xuống xe cứu thương quân đội hụ còi nhào tới, bọn tôi ba lô súng ống phóng qua bên kia cửa trực thăng chuồn mất ra thị xã.
Ra tới thị xã bằng xe lôi, hai thằng phóng ngay vào tiệm thuốc tây mua mỗi thằng một vỉ trụ sinh đặc trị (lâu quá quên tên rồi), con bé bán thuốc tây còn trẻ xinh gái cứ nhìn hai đứa bọn tôi cười mím chi, hí hí
Bọn tôi lang thang Tây ninh rồi đi quá giang quân xa về hậu cứ biệt đội ở Củ Chi trình diện, hết.
42,
Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017
Tao ngộ 7: Vịnh xuân quyền.
Ở Z30C, tôi thuộc đội trồng rau xanh, thuộc thành phần cải tạo kém, bọn trồng rau xanh gồm đa số các đội viên bị giới hạn trong khu vực nhỏ, không được đi ra khỏi khu vực trồng trọt.
Khu trồng rau xanh của từng đội được khai khẩn thành khu vườn vuông vức với các chòi canh nằm hai đầu khu đất, một mặt giáp với khu đất trống kế của đội rau xanh khác, mặt còn lại là con suối Lạnh, con suối nổi tiếng độc vì nhiều người chết bởi nó, riêng bọn tù chết không vì nước độc rừng thiêng, nhưng vì trốn trại và chết trôi mùa nước lũ, băng qua bờ bên kia suối là tự ký án tử cho mình!
Trong tiểu đội tôi, có chàng đại uý phi công trực thăng tên Phi, những lúc nghỉ ngơi sau giờ làm việc, chúng tôi thường túm năm tụm ba ngồi nhắc lại những kỷ niệm ngoài đời. Anh Phi, là người Nam nhưng duyên phận đưa đẩy anh kết hôn một cô người Hẹ nhà có tiệm bán thuốc bắc, mỗi kỳ thăm nuôi khi nhận qùa toàn bộ thức ăn thăm nuôi của anh mở ra tràn ngập mùi thuốc bắc, thậm chí những món đặc nam bộ như thịt kho cũng đậm đặc mùi thuốc bắc, bọn tôi nhiều khi thắc mắc hỏi dồn, anh cười cười là ngay cả cô vợ người Hẹ của anh ngửi cũng toàn mùi thuốc bắc ngấm trong da, hí hí
Anh có khổ người dong dỏng cao, nhìn rắn chắc nhưng không to con, hoạ hoằn lắm anh ngồi xếp bằng biểu diễn đi quyền bằng tay, bọn tôi thật tâm phục khi nhìn anh biểu diễn, đường quyền anh đánh ra mà bọn tôi ngồi đối diện còn không nhìn rõ tay anh đánh như thế nào, tả như vậy để thấy anh ra đòn nhanh đến độ mắt thường không nhìn kịp, nhiều hôm hứng khởi anh còn chấp bọn tôi đố ai ngồi đối diện mà đánh vào người anh được, bọn tôi không ai thắng. Anh cho biết là cao thủ Vịnh xuân Quyền.
Không hiểu từ bọn anten báo cáo sao, mà bọn quản giáo và vệ binh biết được anh là cao thủ Vịnh xuân quyền, khi ra đồng rau làm việc mấy vệ binh gọi anh ra riêng đòi thách đấu, anh kiên quyết từ chối, sau nhều lần thác đấu không được bọn vệ binh không hỏi thêm nữa.
Rồi đến một hôm, khi ra đồng bọn vệ binh lừa gọi anh ra góc chòi canh, chúng tôi không chứng kiến trận đánh, nhưng anh trở về đội mặt mũi sưng vều, hỏi thăm anh kể lại lúc đó 3 tên vệ binh không nói không rằng nhào vô đánh, anh mới đầu chịu đòn không đáp trả, sau đau quá với tức khí, anh ra đòn... hạ cả ba tên nằm đất, từ đó trở đi không thấy vệ binh nào nhắc đến anh nữa, cho đến ngày tôi ra trại. Hí hí
42,
Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017
TSN-68, phần 1
(Bài dịch nhiều ngôn ngữ quân sự, hơi khô khan)
Bộ tư lệnh hành quân không đoàn 377 yểm trợ hành quân- Không lực Hoa kỳ- KBC 96307 San Francisco.
Ngày 09/03/1968.
Báo cáo của: An ninh phi trường.
Chủ đề: Báo cáo chiến trường (RCS: MACV J3-32)(U).
Gửi tới: Sư đoàn 7 Không quân (IGS)
1. Hoạt động: Cối, hoả tiễn, súng cộng đồng/ cá nhân và tấn công bộ binh vào phi trường Tân Sơn Nhứt và yếu khu quân sự TSN (gọi tắt là: yếu khu TSN).
2. Ngày chiến sự: Lúc 0320 giờ sáng 31/01/1968 tới 2100 giờ tối 31/01/1968. Địch bắn súng cá nhân/ súng tự động và trinh sát thăm dò nhiều nơi trên vùng vành đai liên tục tới 09/02/1968.
3. Địa điểm: Phi trường TSN, khu vực lính VNCH, và lân cận yếu khu TSN. Mũi nhọn xâm nhập của địch nhắm vào vùng giữa của lô cốt 049 cho tới khu cổng số 051 ở phiá Tây vòng đai. Địch cũng thử tấn công xâm nhập tại cổng số 10 phía Đông nam vành đai và bộ chỉ huy MACV ngay gần cổng số 10.
4. Trụ sở và đơn vị chỉ huy chiến dịch: Bộ tư lệnh liên hợp yếu khu TSN.
5. Chỉ huy tham gia:
a. Trung tá tá Lưu kim Cương, Tư lệnh không đoàn 33 chiến thuật (chỉ huy trưởng yếu khu quân sự TSN)
b. Thiếu tá Phùng văn Chiêu, Phó chỉ huy trưởng yếu khu TSN
c. Đại tá Farley E. Peebles, Chỉ huy trưởng đoàn 377 yểm trợ chiến đấu.
d. Đại tá Luther J. Miller, cố vấn không đoàn 33 chiến thuật.
e. Trung tá Bernard L. Garred Jr., cố vấn yếu khu TSN
f. Trung tá Billy J. Carter, chỉ huy trưởng an ninh phi trường đoàn 377.
g. Trung tá Peter P. Borowski, Chỉ huy trưởng MACV.
h. Thiếu tá Ronald K. Kollhoff Chỉ huy trưởng không đoàn 120 trực thăng vũ trang.
6. Đơn vị tham dự:
- Tiểu đoàn 2 VNCH.
- Tiểu đoàn 8 Nhảy dù VNCH
- Tiểu đoàn 53 Địa phương quân.
- Tiểu đoàn 1 TQLC VNCH
- Tiểu đoàn 4 TQLC VNCH
- Đội 377 an ninh phi trường Mỹ
- Đội đặc nhiệm 35 Mỹ
- Đội đặc nhiệm Peter Mỹ
- Lực lượng thuộc phi đội 1, trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ
- Chi đội 3, tiểu đoàn 4 kỵ binh (xe tăng), sư đoàn 25 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 1/18 sư đoàn 1 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 2/27 sư đoàn 25 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 2/327 sư đoàn 101 Nhảy dù Mỹ
- Tiểu đoàn 1/27 sư đoàn 25 BB Mỹ
- Phi đội trực thăng vũ trang, không đoàn 120 Mỹ
- Radar phản pháo kích
- Bộ chỉ huy di động (kho Hạnh thông Tây)
- Trung đội đại bác 105 ly VNCH, Bộ chỉ huy phòng thủ liên hợp (JDOC)
- Trung đội đại bác 155 ly VNCH, (Cổ loa) JDOC
- Bộ chỉ huy hỗn hợp không đoàn 33 VNCH và JDOC
- Trung đội thiết giáp, thuộc không đoàn 33 phòng thủ.
- Các đơn vị nhỏ lẻ thuộc Yếu khu TSN và BCH liên hợp
- 150 quân nhân tăng phái cho 377 an ninh phi trường (để hộ tống cho nhân viên khu vực Sài gòn)
- Không quân VNCH và không đoàn 7 Mỹ
- Pháo đội 105 ly của sư đoàn 25 BB
- Nhóm thuộc phi đội 1, lữ đoàn 4 kỵ binh
- Nhóm cố vấn yếu khu TSN.
7. Tin tình báo:
a. Tình báo trước tấn công:
- Các báo cáo tình báo và thông tin thô nhận được bởi bộ chỉ huy liên hợp 30 ngày trước khi cuộc tấn công xảy ra cho biết: "theo mật độ di chuyển tiên đoán sẽ có một số hành động của đối phương xảy ra trong kỳ nghỉ tết. Theo ước tính tình báo, tổng hợp tình hình, cộng quân có khả năng tổ chức một cuộc tấn công bằng tên lửa hoặc súng cối với quy mô lớn cùng với một cuộc tấn công bộ binh với sức mạnh lớn hơn lực lượng một tiểu đoàn".
Một bài thực tập huấn luyện chiến đấu đã được thảo ra ngày 24/1/1968 và phát cho các Tư lệnh liên quan để thẩm định và thực hiện vào đêm 26-27/1/1968. Bài thực tập được thiết kế để kiểm tra khả năng của tất cả các lực lượng an ninh đang bảo vệ Yếu khu TSN. Cổng 0-51, được coi là điểm dễ bị tấn công nhất của vòng đai và là trục đường tiếp cận của địch dự kiến xâm nhập từ biên giới Cam-pu-chia sang.
Báo động VÀNG bắt đầu từ 0025 giờ, ngày 27/1/1968. Cuộc diễn tập Tết đã được tiến hành, gồm cả một cuộc họp rút kinh nghiệm của các chỉ huy vào 0500 giờ tại Bộ Tư lệnh phòng thủ liên hợp.
- Tin tình báo trong những ngày trước cuộc tấn công vẫn không có gì thay đổi bất bình thường. Không có thông tin đáng kể nào cho biết cuộc tấn công của địch vào Tân Sơn Nhứt sắp xảy ra. Các cơ quan thu thập thông tin nhận định không có thay đổi đáng kể về vị trí, động tĩnh, hoặc sức mạnh của lực lượng địch trong khu vực.
- Lúc 1020 giờ, ngày 30/1/1968, Chỉ huy đơn vị 377 An ninh phi trường, ra lệnh báo động Vàng toàn đơn vị của ông nhằm phản ứng với hoạt động của đối phương gia tăng trong thời gian Tết và sự cắt giảm quân số của các đơn vị lính VNCH đi phép nghỉ tết.
- Vào 1732 giờ, ngày 30/1/1968, bất ngờ đội An ninh phi trường 377 được đặt trong báo động Đỏ theo lệnh của Tư lệnh sư đoàn 7 Không quân. Bộ tư lệnh liên hợp (JDOC) đã cố gắng xác nhận báo động Đỏ của lực lượng an ninh phi trường thông qua các kênh của Quân đội Hoa Kỳ nhưng không được hồi báo. Tất cả các lực lượng còn lại trong yếu khu TSN vẫn ở trong tình trạng báo động Trắng, ngoại trừ đội An ninh phi trường 377 và đội đặc nhiệm 35 báo động Đỏ, tất cả các Lực lượng phòng vệ khu vực TSN khác đều chỉ báo động Vàng.
b. Tình báo hậu chiến: Những tin tức này được tổng hợp từ nhiều nguồn tình báo, gồm cả sư đoàn 7 không quân, MACV, những cơ quan trực tiếp hỗ trợ yếu khu TSN.
- Trận đánh vào sân bay TSN là một phần không thể tách rời của kế hoạch tấn công của cộng quân tấn công vào tỉnh Gia Định và vào chính quyền VNCH.
- Nhận định rằng kế hoạch tấn công vào Tân Sơn Nhứt được xây dựng và thảo luận bởi cán bộ Việt Cộng vào rất sớm, có thể từ 22/12/1967. Trong các cuộc họp tiếp theo của địch, cuộc tấn công đã được lên kế hoạch cho giai đoạn trước tết nguyên đán.
- Các nguồn tin tình báo cho biết rằng có khoảng 9 tiểu đoàn địch ở khu vực ngoại ô Sài Gòn, và ít nhất 7 đơn vị trong đó tham gia tấn công căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn địch ở khu vực chung quanh Sài Gòn được tăng cường và hỗ trợ bởi khoảng 12 đại đội được xác định phiên hiệu hoặc các đơn vị với quân số lớn hơn thuộc Công trường 5 của Quân đội Bắc Việt.
- Mặc dù tất cả các đơn vị liên quan đến vụ tấn công vào Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất đã không được xác định rõ ràng, các mục tiêu cụ thể của địch và mũi tấn công của các đơn vị địch quân đã được thấy rõ. Vai trò của các đơn vị địch và đặc điểm của họ được thảo luận dưới đây:
(a) Các đơn vị không xác định của địch quân đã bắn súng tự động vào khu vực lắp đặt bãi chứa xăng dầu và khu vực đậu máy bay C-130. Hoả lực này xuất phát từ một vị trí ngoài vòng rào phía đông của sân bay gần các đường băng.
(b) Áp lực nặng nề của đại đội đặc công C-10 và Tiểu đoàn 2 du kích quân đã cố gắng tấn công vào Trụ sở BTM liên hợp, nằm sát biên giới phía Đông Nam của sân bay, và mũi tiến quân sau đó của hai đơn vị này đã được thực hiện qua phần hàng rào phía đông nam của khu tham mưu liên hợp.
(c) Hoả lực từ vũ khí cá nhân đã được tập trung rất mạnh nhắm tới cổng số 2 bởi các đơn vị địch không được xác định. Quân số tấn công này có thể là một bộ phận của mũi tấn công Tiểu Đoàn 2 du kích quân và đại đội đặc công C-10.
(d) Lực lượng địch khác, có thể là Tiểu đoàn 6 Du kích quân và đại đội đặc công C-10, đã tấn công trạm kiểm soát phía nam của khu trụ sở MACV, khoảng 250m phía đông nam của hàng rào khu vực. Quân số địch quân này được ước tính là một đại đội trang bị nặng (200+).
(e) Lực lượng địch tấn công vào phía Tây của Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất được ước tính gồm 4 tiểu đoàn trang bị nặng. Đơn vị tham dự và chiến thuật triển khai trận đánh được phân tích bên dưới. Ba cụm địch quân với đơn vị cỡ tiểu đoàn được chia thành từng mũi tấn công riêng:
- Một đơn vị thuộc đại đội đặc công C-10 tiếp cận hàng rào vành đai bằng xe Lambretta từ trên quốc lộ 1. Địch nhanh chóng chuyển các Torpedo Bangalore (bộc phá cây) và kích nổ phá hàng rào. Vụ nổ đã phá tung một phần hàng rào vành đai bên ngoài, từ cửa mở này địch quân đã liên tục xử dụng để làm bàn đạp đánh sâu vào khu vực. Lực lượng đặc công C-10 phối hợp cùng với lực lượng tấn công ban đầu và cùng xâm nhập vào khu trung tâm. Khu vực xuất phát của nhóm đặc công này từ xung quanh làng Phú Cường, khoảng 15km phía bắc căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.
- Mũi tấn công chính, Tiểu đoàn 267 quân số trong đó có khoảng 25% là bộ đội Bắc việt, là tiểu đoàn chính và là lực lượng tấn công chủ yếu trong mũi tấn công tuyến phía tây. Tiểu đoàn này, giống như tất cả các tiểu đoàn tấn công khác, có quân số từ 450 đến 500 người, đơn vị này là mũi tấn công đã thọc sâu nhất vào khu vực TSN. Lực lượng này đã tập kết tại vùng 6km phiá Nam Đức Hoà, cách khoảng 18km về phía tây của căn cứ.
- Mũi tấn công chính, Tiểu đoàn 16, Việt Cộng tức D-16 (bộ đội Bắc việt), là đơn vị đứng thứ nhì trong lực lượng tấn công. Rất nhiều tử sĩ từ đơn vị này đã được xác định cả bên trong và phiá bên ngoài hàng rào vòng đai. Có khả năng tiểu đoàn này cùng phối hợp hoặc ít nhất là cùng mũi tấn công với tiểu đoàn 267 được nêu ở trên, vì việc phân định mũi tấn công của họ không rõ ràng và các xác chết của họ nằm lẫn lộn với nhau. Quân số đơn vị này đa số là Bộ đội Bắc việt.
- Mũi tấn công chính, Tiểu Đoàn 269 là đơn vị đánh tập hậu. lực lượng này đã ém quân chung quanh khu vực Đức Hoà để tiến đánh TSN. Đơn vị này trên đường tiến quân đã bị Tiểu đoàn 53 Địa phương quân phát hiện chặn đắnh trước khi đến hàng rào vành đai xung quanh.
- Tiểu Đoàn 90 thuộc Trung Đoàn 1 Bộ đội Bắc việt (KB-604) Trung đoàn nằm trong nhà máy dệt Vinatexco ở phía tây bắc của hàng rào vành đai bị phá. Tiểu đoàn này đã đặt 12 ụ cối ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam của nhà máy dệt, kết luận từ thẩm vấn các tù binh bị bắt sau này, đây được biết là lực lượng hỏa lực yểm trợ cho lực lượng tấn công vào TSN. Đơn vị này đã bị thiệt hại khoảng hơn 170 (+) cán binh phần lớn trong cuộc không kích vào nhà máy trong ngày 31/1/1968. Theo nguồn tin tình báo của phiá VNCH cho biết trong số những thương vong của địch tại nhà máy Vinatexco có 7 phi công của Bộ đội Bắc việt và 15 kỹ thuật viên máy bay của Bộ đội Bắc việt.
- Có sự hỗ trợ các của các lực lượng, đơn vị không xác định khác cung cấp hỗ trợ hỏa lực pháo binh cho các lực lượng bộ binh tấn công vào phi trường TSN.
Còn tiếp. 42 chuyển ngữ.
(http://www.tsna.org/afteraction/jan311968.html)
Bộ tư lệnh hành quân không đoàn 377 yểm trợ hành quân- Không lực Hoa kỳ- KBC 96307 San Francisco.
Ngày 09/03/1968.
Báo cáo của: An ninh phi trường.
Chủ đề: Báo cáo chiến trường (RCS: MACV J3-32)(U).
Gửi tới: Sư đoàn 7 Không quân (IGS)
1. Hoạt động: Cối, hoả tiễn, súng cộng đồng/ cá nhân và tấn công bộ binh vào phi trường Tân Sơn Nhứt và yếu khu quân sự TSN (gọi tắt là: yếu khu TSN).
2. Ngày chiến sự: Lúc 0320 giờ sáng 31/01/1968 tới 2100 giờ tối 31/01/1968. Địch bắn súng cá nhân/ súng tự động và trinh sát thăm dò nhiều nơi trên vùng vành đai liên tục tới 09/02/1968.
3. Địa điểm: Phi trường TSN, khu vực lính VNCH, và lân cận yếu khu TSN. Mũi nhọn xâm nhập của địch nhắm vào vùng giữa của lô cốt 049 cho tới khu cổng số 051 ở phiá Tây vòng đai. Địch cũng thử tấn công xâm nhập tại cổng số 10 phía Đông nam vành đai và bộ chỉ huy MACV ngay gần cổng số 10.
4. Trụ sở và đơn vị chỉ huy chiến dịch: Bộ tư lệnh liên hợp yếu khu TSN.
5. Chỉ huy tham gia:
a. Trung tá tá Lưu kim Cương, Tư lệnh không đoàn 33 chiến thuật (chỉ huy trưởng yếu khu quân sự TSN)
b. Thiếu tá Phùng văn Chiêu, Phó chỉ huy trưởng yếu khu TSN
c. Đại tá Farley E. Peebles, Chỉ huy trưởng đoàn 377 yểm trợ chiến đấu.
d. Đại tá Luther J. Miller, cố vấn không đoàn 33 chiến thuật.
e. Trung tá Bernard L. Garred Jr., cố vấn yếu khu TSN
f. Trung tá Billy J. Carter, chỉ huy trưởng an ninh phi trường đoàn 377.
g. Trung tá Peter P. Borowski, Chỉ huy trưởng MACV.
h. Thiếu tá Ronald K. Kollhoff Chỉ huy trưởng không đoàn 120 trực thăng vũ trang.
6. Đơn vị tham dự:
- Tiểu đoàn 2 VNCH.
- Tiểu đoàn 8 Nhảy dù VNCH
- Tiểu đoàn 53 Địa phương quân.
- Tiểu đoàn 1 TQLC VNCH
- Tiểu đoàn 4 TQLC VNCH
- Đội 377 an ninh phi trường Mỹ
- Đội đặc nhiệm 35 Mỹ
- Đội đặc nhiệm Peter Mỹ
- Lực lượng thuộc phi đội 1, trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ
- Chi đội 3, tiểu đoàn 4 kỵ binh (xe tăng), sư đoàn 25 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 1/18 sư đoàn 1 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 2/27 sư đoàn 25 BB Mỹ
- Tiểu đoàn 2/327 sư đoàn 101 Nhảy dù Mỹ
- Tiểu đoàn 1/27 sư đoàn 25 BB Mỹ
- Phi đội trực thăng vũ trang, không đoàn 120 Mỹ
- Radar phản pháo kích
- Bộ chỉ huy di động (kho Hạnh thông Tây)
- Trung đội đại bác 105 ly VNCH, Bộ chỉ huy phòng thủ liên hợp (JDOC)
- Trung đội đại bác 155 ly VNCH, (Cổ loa) JDOC
- Bộ chỉ huy hỗn hợp không đoàn 33 VNCH và JDOC
- Trung đội thiết giáp, thuộc không đoàn 33 phòng thủ.
- Các đơn vị nhỏ lẻ thuộc Yếu khu TSN và BCH liên hợp
- 150 quân nhân tăng phái cho 377 an ninh phi trường (để hộ tống cho nhân viên khu vực Sài gòn)
- Không quân VNCH và không đoàn 7 Mỹ
- Pháo đội 105 ly của sư đoàn 25 BB
- Nhóm thuộc phi đội 1, lữ đoàn 4 kỵ binh
- Nhóm cố vấn yếu khu TSN.
7. Tin tình báo:
a. Tình báo trước tấn công:
- Các báo cáo tình báo và thông tin thô nhận được bởi bộ chỉ huy liên hợp 30 ngày trước khi cuộc tấn công xảy ra cho biết: "theo mật độ di chuyển tiên đoán sẽ có một số hành động của đối phương xảy ra trong kỳ nghỉ tết. Theo ước tính tình báo, tổng hợp tình hình, cộng quân có khả năng tổ chức một cuộc tấn công bằng tên lửa hoặc súng cối với quy mô lớn cùng với một cuộc tấn công bộ binh với sức mạnh lớn hơn lực lượng một tiểu đoàn".
Một bài thực tập huấn luyện chiến đấu đã được thảo ra ngày 24/1/1968 và phát cho các Tư lệnh liên quan để thẩm định và thực hiện vào đêm 26-27/1/1968. Bài thực tập được thiết kế để kiểm tra khả năng của tất cả các lực lượng an ninh đang bảo vệ Yếu khu TSN. Cổng 0-51, được coi là điểm dễ bị tấn công nhất của vòng đai và là trục đường tiếp cận của địch dự kiến xâm nhập từ biên giới Cam-pu-chia sang.
Báo động VÀNG bắt đầu từ 0025 giờ, ngày 27/1/1968. Cuộc diễn tập Tết đã được tiến hành, gồm cả một cuộc họp rút kinh nghiệm của các chỉ huy vào 0500 giờ tại Bộ Tư lệnh phòng thủ liên hợp.
- Tin tình báo trong những ngày trước cuộc tấn công vẫn không có gì thay đổi bất bình thường. Không có thông tin đáng kể nào cho biết cuộc tấn công của địch vào Tân Sơn Nhứt sắp xảy ra. Các cơ quan thu thập thông tin nhận định không có thay đổi đáng kể về vị trí, động tĩnh, hoặc sức mạnh của lực lượng địch trong khu vực.
- Lúc 1020 giờ, ngày 30/1/1968, Chỉ huy đơn vị 377 An ninh phi trường, ra lệnh báo động Vàng toàn đơn vị của ông nhằm phản ứng với hoạt động của đối phương gia tăng trong thời gian Tết và sự cắt giảm quân số của các đơn vị lính VNCH đi phép nghỉ tết.
- Vào 1732 giờ, ngày 30/1/1968, bất ngờ đội An ninh phi trường 377 được đặt trong báo động Đỏ theo lệnh của Tư lệnh sư đoàn 7 Không quân. Bộ tư lệnh liên hợp (JDOC) đã cố gắng xác nhận báo động Đỏ của lực lượng an ninh phi trường thông qua các kênh của Quân đội Hoa Kỳ nhưng không được hồi báo. Tất cả các lực lượng còn lại trong yếu khu TSN vẫn ở trong tình trạng báo động Trắng, ngoại trừ đội An ninh phi trường 377 và đội đặc nhiệm 35 báo động Đỏ, tất cả các Lực lượng phòng vệ khu vực TSN khác đều chỉ báo động Vàng.
b. Tình báo hậu chiến: Những tin tức này được tổng hợp từ nhiều nguồn tình báo, gồm cả sư đoàn 7 không quân, MACV, những cơ quan trực tiếp hỗ trợ yếu khu TSN.
- Trận đánh vào sân bay TSN là một phần không thể tách rời của kế hoạch tấn công của cộng quân tấn công vào tỉnh Gia Định và vào chính quyền VNCH.
- Nhận định rằng kế hoạch tấn công vào Tân Sơn Nhứt được xây dựng và thảo luận bởi cán bộ Việt Cộng vào rất sớm, có thể từ 22/12/1967. Trong các cuộc họp tiếp theo của địch, cuộc tấn công đã được lên kế hoạch cho giai đoạn trước tết nguyên đán.
- Các nguồn tin tình báo cho biết rằng có khoảng 9 tiểu đoàn địch ở khu vực ngoại ô Sài Gòn, và ít nhất 7 đơn vị trong đó tham gia tấn công căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn địch ở khu vực chung quanh Sài Gòn được tăng cường và hỗ trợ bởi khoảng 12 đại đội được xác định phiên hiệu hoặc các đơn vị với quân số lớn hơn thuộc Công trường 5 của Quân đội Bắc Việt.
- Mặc dù tất cả các đơn vị liên quan đến vụ tấn công vào Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất đã không được xác định rõ ràng, các mục tiêu cụ thể của địch và mũi tấn công của các đơn vị địch quân đã được thấy rõ. Vai trò của các đơn vị địch và đặc điểm của họ được thảo luận dưới đây:
(a) Các đơn vị không xác định của địch quân đã bắn súng tự động vào khu vực lắp đặt bãi chứa xăng dầu và khu vực đậu máy bay C-130. Hoả lực này xuất phát từ một vị trí ngoài vòng rào phía đông của sân bay gần các đường băng.
(b) Áp lực nặng nề của đại đội đặc công C-10 và Tiểu đoàn 2 du kích quân đã cố gắng tấn công vào Trụ sở BTM liên hợp, nằm sát biên giới phía Đông Nam của sân bay, và mũi tiến quân sau đó của hai đơn vị này đã được thực hiện qua phần hàng rào phía đông nam của khu tham mưu liên hợp.
(c) Hoả lực từ vũ khí cá nhân đã được tập trung rất mạnh nhắm tới cổng số 2 bởi các đơn vị địch không được xác định. Quân số tấn công này có thể là một bộ phận của mũi tấn công Tiểu Đoàn 2 du kích quân và đại đội đặc công C-10.
(d) Lực lượng địch khác, có thể là Tiểu đoàn 6 Du kích quân và đại đội đặc công C-10, đã tấn công trạm kiểm soát phía nam của khu trụ sở MACV, khoảng 250m phía đông nam của hàng rào khu vực. Quân số địch quân này được ước tính là một đại đội trang bị nặng (200+).
(e) Lực lượng địch tấn công vào phía Tây của Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất được ước tính gồm 4 tiểu đoàn trang bị nặng. Đơn vị tham dự và chiến thuật triển khai trận đánh được phân tích bên dưới. Ba cụm địch quân với đơn vị cỡ tiểu đoàn được chia thành từng mũi tấn công riêng:
- Một đơn vị thuộc đại đội đặc công C-10 tiếp cận hàng rào vành đai bằng xe Lambretta từ trên quốc lộ 1. Địch nhanh chóng chuyển các Torpedo Bangalore (bộc phá cây) và kích nổ phá hàng rào. Vụ nổ đã phá tung một phần hàng rào vành đai bên ngoài, từ cửa mở này địch quân đã liên tục xử dụng để làm bàn đạp đánh sâu vào khu vực. Lực lượng đặc công C-10 phối hợp cùng với lực lượng tấn công ban đầu và cùng xâm nhập vào khu trung tâm. Khu vực xuất phát của nhóm đặc công này từ xung quanh làng Phú Cường, khoảng 15km phía bắc căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.
- Mũi tấn công chính, Tiểu đoàn 267 quân số trong đó có khoảng 25% là bộ đội Bắc việt, là tiểu đoàn chính và là lực lượng tấn công chủ yếu trong mũi tấn công tuyến phía tây. Tiểu đoàn này, giống như tất cả các tiểu đoàn tấn công khác, có quân số từ 450 đến 500 người, đơn vị này là mũi tấn công đã thọc sâu nhất vào khu vực TSN. Lực lượng này đã tập kết tại vùng 6km phiá Nam Đức Hoà, cách khoảng 18km về phía tây của căn cứ.
- Mũi tấn công chính, Tiểu đoàn 16, Việt Cộng tức D-16 (bộ đội Bắc việt), là đơn vị đứng thứ nhì trong lực lượng tấn công. Rất nhiều tử sĩ từ đơn vị này đã được xác định cả bên trong và phiá bên ngoài hàng rào vòng đai. Có khả năng tiểu đoàn này cùng phối hợp hoặc ít nhất là cùng mũi tấn công với tiểu đoàn 267 được nêu ở trên, vì việc phân định mũi tấn công của họ không rõ ràng và các xác chết của họ nằm lẫn lộn với nhau. Quân số đơn vị này đa số là Bộ đội Bắc việt.
- Mũi tấn công chính, Tiểu Đoàn 269 là đơn vị đánh tập hậu. lực lượng này đã ém quân chung quanh khu vực Đức Hoà để tiến đánh TSN. Đơn vị này trên đường tiến quân đã bị Tiểu đoàn 53 Địa phương quân phát hiện chặn đắnh trước khi đến hàng rào vành đai xung quanh.
- Tiểu Đoàn 90 thuộc Trung Đoàn 1 Bộ đội Bắc việt (KB-604) Trung đoàn nằm trong nhà máy dệt Vinatexco ở phía tây bắc của hàng rào vành đai bị phá. Tiểu đoàn này đã đặt 12 ụ cối ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam của nhà máy dệt, kết luận từ thẩm vấn các tù binh bị bắt sau này, đây được biết là lực lượng hỏa lực yểm trợ cho lực lượng tấn công vào TSN. Đơn vị này đã bị thiệt hại khoảng hơn 170 (+) cán binh phần lớn trong cuộc không kích vào nhà máy trong ngày 31/1/1968. Theo nguồn tin tình báo của phiá VNCH cho biết trong số những thương vong của địch tại nhà máy Vinatexco có 7 phi công của Bộ đội Bắc việt và 15 kỹ thuật viên máy bay của Bộ đội Bắc việt.
- Có sự hỗ trợ các của các lực lượng, đơn vị không xác định khác cung cấp hỗ trợ hỏa lực pháo binh cho các lực lượng bộ binh tấn công vào phi trường TSN.
![]() |
| Hình trên mạng |
(http://www.tsna.org/afteraction/jan311968.html)
Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017
Chị đáng giá đó!
Worth it
OK, I tell him to bring it back like he's left something
Bring it back as he left something
In the club with the lights off
Whatchu acting shy for?
Come and show me that you are with it, you with it
Stop playing, now you know that I'm with it
Whatchu acting shy for?
Uh huh, you see me in the club light
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
'cause I don't want to waste my time
Uh huh see me in the club light
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
Come and make you worth my while
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẻo mỏ "Ooh, anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Chụy không muốn lãng phí thời gian
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẩu môi "Ooh anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Đừng làm mất thời giờ của chụy
OK, I tell him to bring it back like he's left something
Bring it back as he left something
In the club with the lights off
Whatchu acting shy for?
Come and show me that you are with it, you with it
Stop playing, now you know that I'm with it
Whatchu acting shy for?
Uh huh, you see me in the club light
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
'cause I don't want to waste my time
Uh huh see me in the club light
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
Come and make you worth my while
...........
It's all on you, it's all on you
It's all on you, so what do you gonna do?
And if you do not have a clue
Not a clue, what to do
Come harder just because
I don't like it, like it you
I like it a bit rough
But not too much, maybe just enough
Uh huh, you see me in the spotlight
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
Come and make me worth my while
Uh huh see me in the spot light
"Ooh I love your style"
Uh huh, show me what you got
Come and make me worth my while
It's all on you, it's all on you
It's all on you, so what do you gonna do?
And if you do not have a clue
Not a clue, what to do
Come harder just because
I don't like it, like it you
I like it a bit rough
But not too much, maybe just enough
Uh huh, you see me in the spotlight
"Ooh I love your style"
Uh huh show me what you got
Come and make me worth my while
Uh huh see me in the spot light
"Ooh I love your style"
Uh huh, show me what you got
Come and make me worth my while
............
'cause baby, I'm worth it
Uh... baby I'm worth it
Gime gime I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Huh... Baby, I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Gime gime I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Gái ế!
OK, chụy gọi hắn quay trở lại làm như hắn quên đồ
Gọi lại như hắn quên gì đó
Club lúc đó tắt đèn tối thui
Vậy mà hắn mắc cở gì?
Tới đây và làm tới đi
Thôi đi, cưng biết chị cũng tới
Vậy mà hắn mắc cở gì?
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẻo mỏ "Ooh, anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Chụy không muốn lãng phí thời gian
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẩu môi "Ooh anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Đừng làm mất thời giờ của chụy
..........
Giờ cho hết, cho cưng hết
Cho cưng hết, giờ cưng muốn gì?
Mà nếu cưng không biết
Không biết bắt đầu từ đâu
Tấn công mạnh lên chút
Chụy không thích rụt rè như cưng
Chụy thích cứng rắn chút
Đừng quá vũ phu, vừa đủ thôi
Uh... baby I'm worth it
Gime gime I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Huh... Baby, I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Gime gime I'm worth it
Don't you know I'm worth it
Gái ế!
OK, chụy gọi hắn quay trở lại làm như hắn quên đồ
Gọi lại như hắn quên gì đó
Club lúc đó tắt đèn tối thui
Vậy mà hắn mắc cở gì?
Tới đây và làm tới đi
Thôi đi, cưng biết chị cũng tới
Vậy mà hắn mắc cở gì?
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẻo mỏ "Ooh, anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Chụy không muốn lãng phí thời gian
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẩu môi "Ooh anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Đừng làm mất thời giờ của chụy
..........
Giờ cho hết, cho cưng hết
Cho cưng hết, giờ cưng muốn gì?
Mà nếu cưng không biết
Không biết bắt đầu từ đâu
Tấn công mạnh lên chút
Chụy không thích rụt rè như cưng
Chụy thích cứng rắn chút
Đừng quá vũ phu, vừa đủ thôi
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẻo mỏ "Ooh, anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Chụy không muốn lãng phí thời gian
Ứ ừ, khi nó thấy chụy trong ánh đèn sân khấu
Nó dẩu môi "Ooh anh yêu phong cách của em"
Ứ ừ, giờ cưng thể hiện đi
Đừng làm mất thời giờ của chụy
..........
Cưng nè, vì chụy đáng giá đó
Ừ...cưng, chụy đáng giá mà
Làm tới đi, tới luôn chị đáng giá
Cưng không biết là chụy đáng giá sao
Hứ...cưng, chụy đáng giá thiệt mà
Cưng hổng biết sao
Tới đi cưng, chụy đáng giá mà
Cưng hổng biết sao.
Cưng nè, vì chụy đáng giá đó
Ừ...cưng, chụy đáng giá mà
Làm tới đi, tới luôn chị đáng giá
Cưng không biết là chụy đáng giá sao
Hứ...cưng, chụy đáng giá thiệt mà
Cưng hổng biết sao
Tới đi cưng, chụy đáng giá mà
Cưng hổng biết sao.
42 chuyển ngữ.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



